vanban.org

Điều 7. Soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu mật — Quyết định 40/2006/QĐ-BBCVT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/11/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/11/2017 Thay thế: 19/2017/TT-BTTTT · 12/09/2017
Bộ Bưu chính, Viễn thông Ban hành 11/09/2006 Hiệu lực 16/10/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 40/2006/QĐ-BBCVT Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của Bộ Bưu chính, Viễn thông · 40/2006/QĐ-BBCVT
01/11/201719/2017/TT-BTTTTThay thế Đang xem 16/10/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 40/2006/QĐ-BBCVT › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu mật

1. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm bảo mật quá trình xây dựng bản thảo, trình, in, sao chụp tài liệu mật.

2. Khi soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu mật phải chấp hành những quy định sau:

a) Phải tiến hành ở nơi bảo đảm bí mật, an toàn;

b) Không được sử dụng máy tính đã nối mạng Internet hay mạng nội bộ để soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu mật;

c) Phải có mật khẩu khi soạn thảo, lưu giữ dự thảo tài liệu mật trên máy tính;

d) Các bản dự thảo tài liệu mật phải ghi số thứ tự, số trang, ký hiệu tên người soạn thảo, ký hiệu tên người in, sao chụp, không được đem ra khỏi nơi quy định; các trang nháp khi cần huỷ phải huỷ ngay tại chỗ;

đ) Số lượng tài liệu mật cần in, sao chụp để gửi ra ngoài do thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ký văn bản quyết định; người thực hiện in, sao chụp chỉ được in sao chụp đúng số lượng đã quy định, sau khi in, sao chụp xong phải kiểm tra lại và huỷ ngay tại chỗ bản dư thừa và những bản in, sao chụp hỏng;

e) Đối với tài liệu mật do cơ quan khác gửi đến, Bộ trưởng hoặc người được uỷ quyền xử lý, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có tài liệu mật gửi đến sẽ quyết định số lượng bản sao chụp;

g) Bí mật nhà nước sao chụp ở dạng băng, đĩa mềm, phim chụp ảnh, thiết bị lưu trữ ngoài giao tiếp qua cổng USB phải được niêm phong, phải có văn bản ghi rõ tên của vật lưu kèm theo, tên người sao, chụp và đóng dấu độ mật vào văn bản này.