Điều 14. Lưu giữ, bảo quản, thống kê tài liệu mật
1. Cơ quan, đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm lưu giữ, bảo quản tài liệu mật nhận được, phải lập hồ sơ quản lý tài liệu mật. Tài liệu thuộc độ Tuyệt mật, Tối mật phải được lưu giữ riêng. Không được lưu giữ tài liệu mật trong máy tính có kết nối Internet hoặc mạng nội bộ. Tài liệu mật in, sao, chụp, ghi âm, ghi hình phải được bảo mật như tài liệu gốc.
2. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu mật phải thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo việc thống kê, lưu giữ, bảo quản tài liệu mật trong phạm vi quyền hạn của mình.
3. Tài liệu mật khi đang giải quyết, người được giao nhiệm vụ phải có trách nhiệm bảo đảm an toàn, phải cất vào tủ hoặc két sắt có khóa khi hết giờ làm việc; sau khi xử lý xong, phải chuyển trả tài liệu mật cho văn thư hoặc bộ phận bảo mật của đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu đó. Trường hợp bị mất, tráo đổi, hư hỏng hoặc bị lộ một phần hoặc toàn bộ tài liệu mật phải báo cáo ngay với thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu mật để xử lý kịp thời.
4. Văn phòng tổ chức thống kê tài liệu bí mật nhà nước của Bộ theo trình tự thời gian và từng độ mật; Các tài liệu mật gửi đích danh đến Lãnh đạo Bộ sau khi xử lý được lưu giữ an toàn tại Văn phòng để quản lý.
5. Định kỳ hàng năm, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ thống kê và trình Bộ trưởng Danh mục những tài liệu mật đã xử lý xong nhưng chưa được giải mật để Bộ trưởng xem xét, quyết định chuyển về Văn phòng tiếp tục lưu giữ, bảo quản theo chế độ tài liệu mật.