vanban.org

Điều 19. Tiêu hủy tài liệu mật — Quyết định 40/2006/QĐ-BBCVT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/11/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/11/2017 Thay thế: 19/2017/TT-BTTTT · 12/09/2017
Bộ Bưu chính, Viễn thông Ban hành 11/09/2006 Hiệu lực 16/10/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 40/2006/QĐ-BBCVT Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của Bộ Bưu chính, Viễn thông · 40/2006/QĐ-BBCVT
01/11/201719/2017/TT-BTTTTThay thế Đang xem 16/10/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 40/2006/QĐ-BBCVT › Chương II › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Tiêu hủy tài liệu mật

1. Thẩm quyền quyết định tiêu hủy tài liệu mật được quy định như sau:

a) Tại cơ quan Bộ Bưu chính Viễn thông do Bộ trưởng quyết định. Chánh Văn phòng Bộ đề xuất thành lập và thành phần Hội đồng tiêu huỷ;

b) Tại cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Bưu chính Viễn thông do thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định và thành lập Hội đồng tiêu huỷ.

c) Đối với mật mã, thực hiện tiêu hủy theo quy định của Ban Cơ yếu Chính phủ.

2. Hội đồng tiêu hủy tài liệu mật có trách nhiệm lập biên bản thống kê đầy đủ danh mục từng tài liệu mật cần tiêu huỷ, trong đó phải ghi rõ số công văn, số bản, trích yếu tài liệu. Nội dung biên bản phải phản ánh phương thức, trình tự tiến hành và người thực hiện tiêu huỷ tài liệu mật theo quy định của pháp luật. Biên bản phải có chữ ký đầy đủ của các thành viên Hội đồng tiêu hủy. Biên bản tiêu hủy được lưu giữ tại văn thư hoặc bộ phận bảo mật của cơ quan, đơn vị quản lý tài liệu đó.

3. Cách thức tiêu hủy tài liệu mật:

a) Đối với tài liệu mật là văn bản in trên giấy phải được đốt hoặc xé, nghiền nhỏ tới mức không thể chắp lại được;

b) Đối với tài liệu mật là băng, đĩa mềm, phim chụp ảnh, thiết bị lưu trữ ngoài giao tiếp qua cổng USB phải làm thay đổi toàn bộ hình dạng và tính năng tác dụng để không còn khai thác, sử dụng được;

c) Trong trường hợp đặc biệt, không có điều kiện tổ chức tiêu hủy tài liệu mật theo quy định tại khoản 1 và 2 điều này, nếu tài liệu mật không được tiêu hủy ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu mật đó được quyền tự tiêu hủy nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý. Nếu việc tự tiêu hủy tài liệu mật không có lý do chính đáng thì người tiêu hủy phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.