Điều 6. Bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phần diện tích đất còn lại của thửa đất sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng, nếu người sử dụng đất có đơn đề nghị thu hồi đất theo quy định tại Điều 6a của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT được bổ sung tại khoản 3 Điều 11 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thu hồi đất. Trong trường hợp thu hồi đất thì thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật và được thể hiện trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Giao Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi và các cơ quan liên quan khác (nếu có) kiểm tra thực tế, lập biên bản xác định diện tích đất còn lại đủ điều kiện hay không đủ điều kiện tiếp tục sử dụng, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, kết luận để thực hiện như sau:
Trường hợp kết luận diện tích đất còn lại vẫn đủ điều kiện sử dụng thì Nhà nước không thu hồi.
Trường hợp kết luận diện tích đất còn lại không đủ điều kiện sử dụng thì Nhà nước quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ theo quy định, phần diện tích còn lại này được quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật.
2. Đối với trường hợp phạm vi thu hồi đất thực hiện dự án từ 02 đơn vị hành chính cấp huyện trở lên mà trên địa bàn cấp huyện đều có phần diện tích của thửa đất ngoài phạm vi giải phóng mặt bằng thực hiện dự án thì các đơn vị hành chính cấp huyện xem xét để trao đổi thống nhất trước khi kết luận đối với phần diện tích đất còn lại đủ điều kiện hay không đủ điều kiện tiếp tục sử dụng.