Điều 14. Lập thiết kế - dự toán xây dựng công trình.
1. Hồ sơ thiết kế dự toán gồm: phần thuyết minh; phần bản vẽ thiết kế kỹ thuật (trong đó bao gồm tài liệu khảo sát, khí tượng thuỷ văn và các văn bản pháp lý có liên quan); phần dự toán và quy trình bảo trì công trình. Tổ chức, cá nhân thiết kế phải bàn giao hồ sơ thiết kế xây dựng công trình với số lượng đủ đảm bảo phụ vụ thi công xây dựng công trình, yêu cầu quản lý và lưu trữ tối thiểu 7 bộ.
Nội dung hồ sơ thiết kế xây dựng phải tuân thủ điều 52, 53, 54 của Luật Xây dựng; các qui chuẩn, tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và phải được thể hiện trên các bản vẽ theo qui định. Thiết kế phải thể hiện được các khối lượng công tác xây dựng chủ yếu để làm cơ sở xác định chi phí xây dựng.
Để làm cơ sở cho việc thẩm định và phê duyệt hồ sơ thiết kế - dự toán phải có đủ các nội dung sau:
a) Tài liệu làm căn cứ để thiết kế:
- Các tài liệu về khảo sát xây dựng, khí tượng thuỷ văn và các văn bản pháp lý có liên quan .
- Thiết kế cơ sở được duyệt.
- Danh mục qui chuẩn tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng.
- Các qui định về kiến trúc, qui hoạch xây dựng.
b) Tài liệu thiết kế: bao gồm thuyết minh tính toán (nền móng, kết cấu, công nghệ…), các bản vẽ thiết kế, dự toán xây dựng công trình; các biên bản nghiệm thu thiết kế, khảo sát, báo cáo thẩm tra thiết kế, thẩm tra dự toán (nếu có).
2. Tùy theo quy mô, tính chất của công trình xây dựng, việc thiết kế xây dựng công trình có thể được thực hiện: một bước, hai bước hoặc ba bước theo đúng quy định tại Điều 14 của Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình.
Việc triển khai thiết kế kỹ thuật-dự toán công trình phải phù hợp thiết kế cơ sở, tổng mức đầu tư đã được phê duyệt.
3. Chủ đầu tư tổ chức lập dự toán xây dựng công trình theo quy định của Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chính phủ và Thông tư số 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Chủ đầu tư và tổ chức tư vấn tham khảo, quyết định việc áp dụng hoặc vận dụng hệ thống đơn giá đã được Bộ, ngành trung ương và UBND tỉnh công bố để xác định và quản lý dự toán xây dựng công trình.
a) Nội dung dự toán xây dựng công trình:
Dự toán xây dựng công trình (sau đây gọi là dự toán công trình) được lập cho từng công trình, hạng mục công trình xây dựng.
Dự toán công trình bao gồm chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và chi phí dự phòng.
Dự toán công trình được lập theo hướng dẫn tại phụ lục số 2 của Thông tư số 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng hoặc hệ thống đơn giá do UBND tỉnh công bố tại Quyết định số 3261/QĐ-UBND ngày 10/12/2007 của UBND tỉnh về việc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật ban hành các bộ đơn giá XDCB, định mức XDCB và chuyển sang hình thức công bố.
b) Phương pháp xác định dự toán công trình:
- Chi phí xây dựng:
Chi phí xây dựng trong dự toán công trình được lập cho công trình, hạng mục công trình, công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công hoặc bộ phận, phần việc, công tác của công trình, hạng mục công trình. Chi phí xây dựng được xác định bằng cách lập dự toán. Đối với các công trình phụ trợ, các công trình tạm phục vụ thi công hoặc các công trình đơn giản, thông dụng thì dự toán chi phí xây dựng có thể được xác định bằng suất chi phí xây dựng trong suất vốn đầu tư xây dựng công trình hoặc bằng định mức chi phí tính theo tỷ lệ phần trăm (%) (sau đây gọi chung là định mức tỷ lệ).
Dự toán chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình được lập theo hướng dẫn tại phụ lục số 2 của 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng hoặc hoặc hệ thống đơn giá do UBND tỉnh công bố tại Quyết định số 3261/QĐ-UBND ngày 10/12/2007.
Trường hợp chi phí xây dựng được tính cho từng bộ phận, phần việc, công tác của công trình, hạng mục công trình thì chi phí xây dựng trong dự toán công trình, hạng mục công trình là tổng cộng chi phí của từng bộ phận, phần việc, công tác nêu trên.
Dự toán chi phí xây dựng bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng và chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công. Chi tiết cụ thể, xem hướng dẫn tại Thông tư 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng.
- Chi phí thiết bị:
Chi phí thiết bị trong dự toán công trình bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (kể cả thiết bị công nghệ phi tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ; chi phí lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh.
Chi phí mua sắm thiết bị bao gồm: giá mua (gồm cả chi phí thiết kế và giám sát chế tạo), chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu container tại cảng Việt Nam (đối với các thiết bị nhập khẩu), chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi ở hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình.
Chi phí mua sắm thiết bị được xác định theo một trong hai cách dưới đây:
- Đối với những thiết bị đã xác định được giá có thể tính theo số lượng, chủng loại từng loại thiết bị hoặc toàn bộ dây chuyền công nghệ và giá một tấn, một cái hoặc toàn bộ dây chuyền thiết bị tương ứng.
- Đối với những thiết bị chưa xác định được giá có thể tạm tính theo báo giá của nhà cung cấp, nhà sản xuất hoặc giá những thiết bị tương tự trên thị trường tại thời điểm tính toán hoặc của công trình có thiết bị tương tự đã thực hiện.
Đối với các thiết bị công nghệ phi tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công thì chi phí này được xác định trên cơ sở khối lượng thiết bị cần sản xuất, gia công và giá sản xuất, gia công một tấn (hoặc một đơn vị tính) phù hợp với tính chất, chủng loại thiết bị theo hợp đồng sản xuất, gia công đã được ký kết hoặc căn cứ vào báo giá gia công sản phẩm của nhà sản xuất được chủ đầu tư lựa chọn hoặc giá sản xuất, gia công thiết bị tương tự của công trình đã thực hiện.
Chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ được xác định bằng lập dự toán tuỳ theo yêu cầu cụ thể của từng công trình.
Chi phí lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh được lập dự toán như đối với dự toán chi phí xây dựng.
Trường hợp thiết bị được lựa chọn thông qua đấu thầu thì chi phí thiết bị bao gồm giá trúng thầu và các khoản chi phí theo các nội dung nêu trên được ghi trong hợp đồng.
Chi phí thiết bị của công trình được lập theo hướng dẫn tại bảng 2.5 phụ lục số 2 của Thụng tư 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng.
- Chi phí quản lý dự án:
Chi phí quản lý dự án trong dự toán công trình bao gồm các chi phí cần thiết để chủ đầu tư tổ chức thực hiện quản lý dự án.
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc hình thức chỉ định thầu tư vấn quản lý dự án hoặc tự tổ chức thực hiện quản lý dự án: Chủ đầu tư và tổ chức tư vấn sử dụng định mức chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình được Bộ Xây dựng công bố tại công văn số 1751/BXD-VP ngày 14/8/2007 về việc công bố Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư XDCT để xác định dự toán và quản lý chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc hình thức đấu thầu tư vấn quản lý dự án và các nguồn vốn nhà nước khác: Chủ đầu tư và tổ chức tư vấn tham khảo, quyết định việc áp dụng hoặc vận dụng định mức chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình được Bộ Xây dựng công bố tại công văn số 1751/BXD-VP ngày 14/8/2007 để xác định và quản lý chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
+ Khi thuê tư vấn quản lý dự án thì chi phí thuê tư vấn xác định bằng dự toán trên cơ sở nội dung, khối lượng công việc quản lý do chủ đầu tư thuê và các chế độ chính sách theo quy định.
+ Việc quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại thông tư số 118/2007/TT-BTC ngày 02/10/2007 về hướng dẫn quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư của các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng:
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng trong dự toán công trình bao gồm các chi phí quy định tại
Thông tư 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng.
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc hình thức chỉ định thầu tư vấn xây dựng: Chủ đầu tư và tổ chức tư vấn sử dụng định mức chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình được Bộ Xây dựng công bố tại công văn số 1751/BXD-VP ngày 14/8/2007 để xác định và quản lý chi phí tư vấn đầu tư xây dựng công trình.
+ Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc hình thức đấu thầu tư vấn xây dựng và các nguồn vốn nhà nước khác: Chủ đầu tư và tổ chức tư vấn tham khảo, quyết định việc áp dụng hoặc vận dụng định mức chi phí quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình được Bộ Xây dựng công bố tại công văn số 1751/BXD-VP ngày 14/8/2007 để xác định và quản lý chi phí tư vấn đầu tư xây dựng công trình.
- Chi phí khác: thành phần chi tiết xem Thông tư 05/2007/TT-BXD ngày 25/7/2007 của Bộ Xây dựng.
Chi phí khác trong dự toán công trình được xác định bằng định mức tỷ lệ (%) hoặc bằng cách lập dự toán. Đối với các dự án có nhiều công trình thì chi phí thẩm tra tổng mức đầu tư; chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan dự án; vốn lưu động ban đầu đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng; chi phí cho quá trình chạy thử không tải và có tải theo quy trình công nghệ trước khi bàn giao (trừ giá trị sản phẩm thu hồi được) và các khoản phí và lệ phí không tính trong chi phí khác của dự toán công trình.
Đối với một số công trình xây dựng chuyên ngành có các yếu tố chi phí đặc thù, ngoài các chi phí quy định tại các mục c, d, đ nờu trờn nếu còn có các chi phí khác có liên quan thì được bổ sung các chi phí này. Chủ đầu tư tổ chức lấy ý kiến các Sở, ban ngành có liên quan trước khi quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp các công trình của dự án phải thuê tư vấn nước ngoài thực hiện thì chi phí tư vấn được lập dự toán theo quy định hiện hành phù hợp với yêu cầu sử dụng tư vấn cho công trình hoặc giá trị hợp đồng tư vấn đã ký kết để ghi vào dự toán.
Một số chi phí khác nếu chưa có quy định hoặc chưa tính được ngay thì được tạm tính đưa vào dự toán công trình để dự trù kinh phí.
- Chi phí dự phòng:
Chi phí dự phòng là khoản chi phí để dự trù cho khối lượng công việc phát sinh và các yếu tố trượt giá trong thời gian xây dựng công trình.
+ Đối với các công trình có thời gian thực hiện đến 2 năm: chi phí dự phòng được tính bằng 10% trên tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác.
+ Đối với các công trình có thời gian thực hiện trên 2 năm: chi phí dự phòng được xác định bằng 2 yếu tố:
+ Dự phòng chi phí cho yếu tố khối lượng công việc phát sinh được tính bằng 5% tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác.
+ Dự phòng chi phí cho yếu tố trượt giá được tính theo chỉ số giá xây dựng của từng loại công trình xây dựng theo khu vực và thời gian xây dựng.
Thời gian để tính trượt giá là thời gian xây dựng công trình theo tiến độ xây dựng công trình được phê duyệt.
Quy định về việc sử dụng chỉ số giá xây dựng trong xác định dự toán công trình tương tự như chỉ số giá khi xác định tổng mức đầu tư.
- Đối với dự án có nhiều công trình:
Chủ đầu tư có thể xác định tổng dự toán của dự án để phục vụ cho việc quản lý chi phí dự án. Tổng dự toán của dự án được xác định bằng cách cộng dự toán của các công trình thuộc dự án và một số khoản mục chi phí thuộc chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác chưa tính trong dự toán công trình của dự án.
c) Quản lý dự toán công trình:
- Dự toán công trình trước khi phê duyệt phải được thẩm định. Dự toán công trình, hạng mục công trình phải được tính đủ các yếu tố chi phí theo quy định.
- Trường hợp chủ đầu tư không đủ năng lực thẩm định thì thuê các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực, kinh nghiệm thẩm tra dự toán công trình. Tổ chức, cá nhân thẩm tra dự toán công trình chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về kết quả thẩm tra của mình. Chi phí thẩm tra dự toán công trình do chủ đầu tư quyết định.
- Chủ đầu tư phê duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả phê duyệt dự toán công trình sau khi đã thẩm tra làm cơ sở xác định giá gói thầu, giá thành xây dựng và là căn cứ để đàm phán ký kết hợp đồng, thanh toán với nhà thầu trong trường hợp chỉ định thầu.
- Dự toán công trình được điều chỉnh trong các trường hợp:
+ Xuất hiện các yếu tố bất khả kháng: động đất, bão, lốc, chiến tranh hoặc có nguy cơ xảy ra chiến tranh và có tác động trực tiếp đến công trình xây dựng;
+ Khi quy hoạch đã phê duyệt được điều chỉnh có ảnh hưởng trực tiếp tới tổng mức đầu tư xây dựng công trình;
+ Do người quyết định đầu tư thay đổi, điều chỉnh quy mô công trình khi thấy xuất hiện các yếu tố mới đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn.
- Các trường hợp thay đổi, bổ sung thiết kế trái với thiết kế cơ sở hoặc thay đổi cơ cấu chi phí trong dự toán: chủ đầu tư giải trình, xin ý kiến của người quyết định đầu tư trước khi tổ chức lập, thẩm định thiết kế cơ sở. Sau khi thiết kế cơ sở của dự án điều chỉnh được phê duyệt, chủ đầu tư tổ chức thẩm định và phê duyệt thiết kế, dự toán phát sinh.
Chủ đầu tư tổ chức thẩm tra, phê duyệt dự toán điều chỉnh trong trường hợp phỏt sinh khụng vượt tổng mức đầu tư.
Trường hợp giá trị dự toán phát sinh làm vượt tổng mức đầu tư, chủ đầu tư giải trình, xin ý kiến của người quyết định đầu tư trước khi tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư. Sau khi tổng mức đầu tư điều chỉnh đã được phê duyệt, chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt dự toán phát sinh.
* Riêng đối với công trình xây dựng thuộc hình thức chỉ định thầu:
Trước khi trình chỉ định thầu, trường hợp phát hiện đơn giá vật tư, nhân công, máy thi công thuộc hệ thống đơn giá không phù hợp hoặc không có trong hệ thống đơn giá đã công bố, thì:
- Đối với giá của vật liệu xây dựng: chủ đầu tư đề xuất, thỏa thuận với Sở Tài chính về giá của vật liệu xây dựng trước khi áp dụng; Sở Tài chính có trách nhiệm thoả thuận giá vật liệu xây dựng trong vòng 05 ngày.
- Đối với đơn giá nhân công, máy thi công: chủ đầu tư đề xuất, thỏa thuận với Sở Xây dựng về đơn giá nhân công, máy thi công khi áp dụng; Sở Xây dựng có trách nhiệm thoả thuận giá nhân công, máy trong vòng 05 ngày.
4. Dự toán xây dựng công trình phải được tính đúng, tính đủ theo quy định hiện hành. Dự toán xây dựng công trình được điều chỉnh tăng trong các trường hợp sau:
a) Xuất hiện các yếu tố bất khả kháng : động đất, bão, lũ, lốc, lở đất; chiến tranh hoặc nguy cơ có chiến tranh có tác động trực tiếp đến công trình xây dựng.
b) Khi quy hoạch đã phê duyệt được điều chỉnh có ảnh hưởng trực tiếp đến tổng mức đầu tư xây dựng công trình.
c) Do người quyết định đầu tư thay đổi, điều chỉnh quy mô công trình khi thấy cácyếu tố mới đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn.
5. Trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật xây dựng các công trình, nhà thầu tư vấn thiết kế phải lập quy trình bảo trì để làm cơ sở cho người sử dụng công trình thực hiện bảo trì theo quy định.