Điều 11. - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển có quyền quản lý tài chính như sau:
1. Tự chủ tài chính, chủ động trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn để bảo đảm sự tăng trưởng các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển.
2. Sử dụng vốn và các quỹ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển để phục vụ kịp thời các nhu cầu kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn, có hiệu quả, đúng với các quy định của Ngân hàng Nhà nước về đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan.
3. Với chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước theo các quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu nhà nước đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển; được phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và các giấy tờ trị giá được bằng tiền khác theo quy định của pháp luật; được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tại các tổ chức tín dụng để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật.
4. Thành lập, quản lý và sử dụng các quỹ tập trung theo quy định của pháp luật.
5. Sử dụng phần lợi nhuận còn lại theo quy định của pháp luật.
6. Hưởng các chế độ trợ cấp về nguồn vốn, bù đắp về lợi nhuận kinh doanh hoặc các chế độ ưu đãi khác của Nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của Chính phủ.
7. Hưởng các chế độ ưu đãi đầu tư hoặc tái đầu tư theo quy định của Nhà nước.