Điều 16. Cơ chế thưởng đối với người có đất thu hồi, người được bồi thường hỗ trợ về tài sản bàn giao đất trước thời hạn quy định (Thực hiện khoản 7 Điều 111 và khoản 2 Điều 108 Luật Đất đai)
1. Đối với đất nông nghiệp mà người bị thu hồi đất nông nghiệp được bồi thường bằng tiền (không áp dụng cơ chế thưởng đối với trường hợp người bị thu hồi đất nông nghiệp được bồi thường bằng đất hoặc bằng nhà ở):
a) Trường hợp người có đất bị thu hồi có đơn tự nguyện đề nghị thu hồi đất trước thời hạn và phối hợp với đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất; đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn ít nhất 30 ngày (kể từ ngày ký thông báo thu hồi đất đến hết ngày thứ 60); nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao đất đúng tiến độ theo Thông báo của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được thưởng 30.000 đồng/m2.
b) Trường hợp người có đất bị thu hồi có đơn tự nguyện đề nghị thu hồi đất trước thời hạn phối hợp với đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất; đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi trước thời hạn kể từ ngày 61 đến hết ngày thứ 89 (tính từ ngày ký thông báo thu hồi đất), không phải thực hiện kiểm đếm bắt buộc; nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao đất đúng tiến độ theo Thông báo của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được thưởng 10.000 đồng/m2.
2. Đối với đất ở:
a) Trường hợp người có đất bị thu hồi có đơn tự nguyện đề nghị thu hồi đất trước thời hạn phối hợp với đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất; đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn ít nhất 90 ngày (kể từ ngày ký thông báo thu hồi đất đến hết ngày thứ 90); nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao đất đúng tiến độ theo Thông báo của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được thưởng 5% tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất ở, tài sản gắn liền với đất ở nhưng không quá 50.000.0000 đồng/người có đất bị thu hồi nếu phải di chuyển chỗ ở, không quá 30.000.000 đồng/người có đất bị thu hồi nếu không phải di chuyển chỗ ở.
b) Trường hợp người có đất bị thu hồi có đơn tự nguyện đề nghị thu hồi đất trước thời hạn phối hợp với đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất; đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn từ ngày thứ 91 đến hết ngày thứ 179 (kể từ ngày ký thông báo thu hồi đất) không phải thực hiện kiểm đếm bắt buộc; nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao đất đúng tiến độ theo Thông báo của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được thưởng 3% tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất ở, tài sản gắn liền với đất ở nhưng không quá 20.000.0000 đồng/người có đất bị thu hồi nếu phải di chuyển chỗ ở, không quá 10.000.000 đồng/người có đất bị thu hồi nếu không phải di chuyển chỗ ở.
3. Đối với di chuyển mộ có chủ trước thời hạn
Trường hợp người được bồi thường, hỗ trợ di chuyển về mồ mả phối hợp với đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất trước thời hạn thông báo thu hồi đất (không phải kiểm đếm bắt buộc); nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao đất đúng tiến độ theo Thông báo của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được thưởng 10% mức bồi thường về mộ đất.
4. Đối với các công trình dự án trọng điểm Ủy ban nhân dân tỉnh có chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà cần thiết phải tăng mức thưởng để tạo sự đồng thuận của người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản phải di dời để sớm có mặt bằng theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đề xuất để Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định tăng mức thưởng nhưng mức thưởng tối đa không vượt quá 20% mức thưởng quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này.