Điều 13. Xử lý một số trường hợp cụ thể
1. Trường hợp thửa đất ở đã sử dụng đất ổn định trước khi chuyển thành đất ở đô thị thì hạn mức giao đất ở được xác định là không quá 150 m2.
2. Diện tích đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trước đây là đất nông nghiệp nay xác định là đất ở thì hộ gia đình cá nhân sử dụng diện tích đất đó không được điều chỉnh, bổ sung thêm diện tích đất nông nghiệp đã chuyển sang đất ở.
3. Đối với cơ sở tôn giáo đã được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận bằng văn bản về việc giao đất để xây dựng mới hoặc mở rộng khuôn viên nhưng đến ngày Quy định này có hiệu lực thi hành chưa được Ủy ban nhân dân tỉnh ký quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì tổ chức tôn giáo trực thuộc được hoàn thiện hồ sơ về đất đai theo diện tích đã được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận. Trường hợp cơ sở tôn giáo đã sử dụng đất nhưng chưa được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận bằng văn bản mà diện tích sử dụng lớn hơn hạn mức quy định tại Điều 7 Quy định này thì Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, xử lý từng trường hợp cụ thể.
4. Trường hợp dự án đầu tư đã được chấp thuận chủ đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư trước ngày Quyết định số 11/2022/QĐ-UBND ngày 16/7/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh có hiệu lực thi hành (ngày 27/6/2022), nhưng đến nay chưa có quyết định giao đất, cho thuê đất mà trong khu đất có diện tích đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý đủ điều kiện tách thành dự án độc lập theo quy định tại khoản 3 Điều 12 của Quy định này thì diện tích đất nhà đầu tư đã hoàn thành việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xử lý theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP
5. Trường hợp tổ chức kinh tế đã được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận cho phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư phi nông nghiệp, trong đó đã đảm bảo điều kiện, tiêu chí, quy mô, tỷ lệ để tách diện tích đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý thành dự án độc lập theo quy định tại Quyết định số 11/2022/QĐ-UBND ngày 16/7/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh thì không áp dụng theo quy định tại Điều 12 Quy định này; nhà đầu tư được tiếp tục thực hiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thời hạn quy định. Khi hết thời hạn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chưa hoàn thành việc nhận chuyển nhượng thì giải quyết theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP.
6. Các giao dịch về quyền sử dụng đất có tách thửa đất nông nghiệp không trong cùng thửa đất có nhà ở để chuyển mục đích sử dụng đất sang làm nhà ở hoặc có thực hiện việc hợp thửa đối với thửa đất nông nghiệp (không phải là đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở) với phần đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở đã được công chứng, chứng thực hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đã nộp đầy đủ hồ sơ hợp lệ trước ngày 01/8/2024 thì được tiếp tục thực hiện nếu đảm bảo điều kiện diện tích, kích thước tối thiểu theo quy định tại thời điểm các giao dịch được công chứng, chứng thực, xác nhận; không phải điều chỉnh theo Quy định này.
7. Trong quá trình tổ chức thực hiện Quy định này nếu phát sinh vướng mắc, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, các địa phương, đơn vị phản ánh kịp thời về Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, điều chỉnh cho phù hợp./.