Điều 20. Thu hồi giấy phép
1. Việc thu hồi giấy phép được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân là chủ giấy phép bị giải thể hoặc bị Toà án tuyên bố phá sản; cá nhân là Chủ giấy phép bị chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố mất tích;
b) Giấy phép được cấp nhưng không sử dụng trong thời gian mười hai (12) tháng liên tục mà không được Sở Tài nguyên và Môi trường cho phép;
c) Chủ giấy phép vi phạm quyết định đình chỉ hiệu lực của giấy phép;
d) Chủ giấy phép vi phạm nội dung quy định của giấy phép, gây cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước;
đ) Giấy phép được cấp không đúng thẩm quyền;
e) Khi Sở Tài nguyên và Môi trường quyết định thu hồi giấy phép vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
2. Trong trường hợp giấy phép bị thu hồi do vi phạm quy định tại các điểm b và c khoản 1 Điều này, Chủ giấy phép chỉ được xem xét cấp giấy phép mới sau ba (3) năm, kể từ ngày thu hồi, nếu đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan đến lý do thu hồi giấy phép cũ.
3. Trong trường hợp giấy phép bị thu hồi theo quy định tại các điểm đ và e khoản 1 Điều này, thì Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét việc cấp giấy phép mới.
4. Khi thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra định kỳ hoặc đột xuất việc thực hiện giấy phép, nếu phát hiện các trường hợp quy định tại điểm a, b, đ khoản 1 Điều này thì người có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản cho Sở Tài nguyên và Môi trường; nếu phát hiện các trường hợp quy định tại điểm c, d, khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra xử lý theo thẩm quyền, đồng thời báo cáo bằng văn bản cho Sở Tài nguyên và Môi trường. Trong thời hạn ba mươi (30) ngày kể từ khi nhận được báo cáo, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xem xét việc thu hồi giấy phép.
5. Đối với trường hợp Sở Tài nguyên và Môi trường quyết định thu hồi giấy phép theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thì phải thông báo cho chủ giấy phép biết trước ba mươi (30) ngày.