Điều 5. Nguyên tắc bồi thường đất
1. Nhà nước thu hồi đất (đất đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật đất đai) của người đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất theo mục đích sử dụng đó tính theo giá đất quy định hàng năm của Uỷ ban nhân dân tỉnh tại thời điểm thu hồi đất.
2. Đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp, nếu địa phương còn quỹ đất thì được đền bù bằng đất có cùng mục đích sử dụng.
3. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước.
4. Người được sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất phi nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp; Người được sử dụng đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất ở thì chỉ được bồi thường theo đất phi nông nghiệp. Trường hợp đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân có nguồn gốc là đất ở đã được giao sử dụng ổn định lâu dài hoặc có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo giá đất ở.