Điều 14. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở.
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thì ngoài việc bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở của thửa đất (nhưng không được cao hơn giá đất ở của thửa đất đó) theo quy định của tỉnh trong các trường hợp sau:
a) Đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở;
b) Đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ;
c) Đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp (không thuộc quy định tại khoản 1 điều này) thì ngoài việc bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ 20% (đối với khu vực đô thị); 30% (đối với khu vực nông thôn) giá đất ở trung bình của địa phương có đất bị thu hồi theo quy định của tỉnh trong các trường hợp sau:
a) Đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường;
b) Đất nông nghiệp trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn;
c) Thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư.
3. Diện tích được hỗ trợ tại khoản 1, khoản 2 điều này không quá 05 lần hạn mức giao đất ở của địa phương, cụ thể như sau: không quá 600 m2 đối với các phường, thị trấn; không quá 1.000 m2 đối với các khu vực còn lại.