Điều 14. Thẩm định giá nhà nước
1. Phạm vi hoạt động thẩm định giá nhà nước do cơ quan tài chính các cấp thực hiện trong các trường hợp sau:
a) Mua, bán, thanh lý, cho thuê tài sản nhà nước hoặc đi thuê tài sản phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;
b) Không thuê được doanh nghiệp thẩm định giá;
c) Mua, bán tài sản thuộc bí mật nhà nước;
d) Mua, bán tài sản nhà nước có tổng giá trị từ 100 triệu đồng trở lên, sau khi đã thuê doanh nghiệp thẩm định giá, cơ quan hoặc người có thẩm quyền phê duyệt cần lấy ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan tài chính trước khi phê duyệt.
Trình tự thủ tục yêu cầu, tiếp nhận, trình tự thẩm định giá nhà nước và quyền, nghĩa vụ của thủ trưởng, công chức cơ quan nhà nước được giao thực hiện thẩm định giá nhà nước thực hiện theo các quy định tại Điều 23, Điều 24, Điều 25 và Điều 26 Nghị định số 89/2013/NĐ-CP ngày 06/8/2013 của Chính phủ và Thông tư số 38/2014/TT-BTC ngày 28/3/2014 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 89/2013/NĐ-CP ngày 06/8/2013 của Chính phủ.
2. Đối với các tài sản nhà nước có giá trị lớn, có tính đặc thù, có yêu cầu kỹ thuật cao thuộc thẩm quyền phê duyệt của UBND tỉnh thì tùy vào điều kiện cụ thể Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh quyết định thành lập Hội đồng thẩm định giá cho từng trường hợp. Thành phần Hội đồng và nguyên tắc hoạt động theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
3. Đối với tài sản nhà nước được giao quản lý, sử dụng; hàng hóa, dịch vụ mua sắm từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước được giao trong dự toán hàng năm của các ngành, các cấp, các đơn vị, thì tùy thuộc vào thẩm quyền quyết định phê duyệt giá được UBND tỉnh phân cấp theo quy định này hoặc theo quy định của pháp luật, thủ trưởng các ngành, các cấp, các đơn vị được quyền thành lập Hội đồng thẩm định giá tài sản thuộc ngành, cấp, đơn vị quản lý.