Điều 7. Thẩm quyền quyết định đấu giá
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Quyết định đấu giá quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau:
a) Các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê; dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; dự án sử dụng quỹ đất để tạo vốn cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; giao đất ở tại đô thị, nông thôn mà tổng diện tích các thửa đất đưa ra đấu giá từ 2.000 m2 trở lên; dự án có sử dụng đất liên quan đến từ hai đơn vị hành chính cấp huyện trở lên.
b) Dự án sử dụng đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai 2013;
c) Giao đất, cho thuê đất khi Nhà nước thu hồi do sắp xếp lại; xử lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh mà tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu Nhà nước.
2. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp huyện) Quyết định đấu giá quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau: Giao đất ở tại đô thị, nông thôn mà tổng diện tích các thửa đất đưa ra đấu giá dưới 2.000 m2; dự án sử dụng đất thương mại, dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai 2013. Trước khi quyết định, Uỷ ban nhân dân cấp huyện lập, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh (qua Sở Tài nguyên và Môi trường) xem xét, phê duyệt phương án đấu giá.