Điều 19. Phê duyệt kết quả đấu giá
1. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ và Biên bản kết quả thực hiện cuộc bán đấu giá từ Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc Hội đồng bán đấu giá quyền sử dụng đất, Tổ chức được giao thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất lập hồ sơ báo cáo cơ quan Tài nguyên và Môi trường, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp Quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất (cơ quan nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất theo quy định của Luật Đất đai thì cơ quan đó Quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất). Hồ sơ gửi kèm theo gồm: Tờ trình đề nghị công nhận kết quả trúng đấu giá; phương án đấu giá quyền sử dụng đất được duyệt; Quyết định phê duyệt giá khởi điểm; hồ sơ thửa đất đấu giá; hợp đồng thuê Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc Quyết định thành lập Hội đồng bán đấu giá quyền sử dụng đất (nếu Hội đồng bán đấu giá quyền sử dụng đất tổ chức thực hiện); biên bản kết quả đấu giá thành công quyền sử dụng đất.
2. Nội dung công nhận kết quả trúng đấu giá, gồm các nội dung cơ bản sau: Họ tên, địa chỉ, số CMND của người trúng đấu giá (ghi rõ tên tổ chức, cá nhân, số tài khoản), thửa đất trúng đấu giá, vị trí thửa đất, diện tích, mục đích, chế độ sử dụng đất (giao hoặc cho thuê), thời hạn sử dụng, giá trúng đấu giá, tổng số tiền trúng đấu giá phải nộp, thời hạn người trúng đấu giá phải nộp tiền sử dụng đất, các nội dung cần thiết khác.
3. Trường hợp sau khi trúng đấu giá, người sử dụng thửa đất trúng đấu giá được cơ quan có thẩm quyền cho phép điều chỉnh quy hoạch dẫn đến hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng tăng thì người sử dụng thửa đất trúng đấu giá phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với phần tăng thêm theo giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất. Trường hợp cho phép điều chỉnh quy hoạch mà hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng giảm thì người sử dụng thửa đất trúng đấu giá phải thực hiện theo giá trúng đấu giá và không được hoàn trả tiền sử dụng đất đối với phần giảm đó.