Điều 22. Hủy kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất
1. Kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất bị hủy trong các trường hợp sau
a) Hợp đồng thuê Tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất bị tòa án tuyên bố vô hiệu hoặc bị hủy theo quy định của pháp luật dân sự;
b) Kết quả bán đấu giá bị hủy theo Quyết định của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp sau:
- Xác định giá khởi điểm không đúng quy định hoặc giá khởi điểm chưa được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt;
- Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá quyền sử dụng đất;
- Lập danh sách khống những người đăng ký tham gia đấu giá;
- Có hành vi gian dối để tham gia hoặc cho phép người khác tham gia cuộc bán đấu giá trái với quy định về người không được tham gia đấu giá;
- Người tham gia đấu giá có hành vi gian lận về điều kiện tham gia đấu giá; thông đồng, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá;
- Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp không có đấu giá viên mà vẫn tiến hành cuộc bán đấu giá;
c) Người trúng đấu giá không nộp đủ (100%) số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất do trúng đấu giá vào ngân sách nhà nước theo Thông báo của Tổ chức được giao thực hiện việc đấu giá giá quyền sử dụng đất (khi đã hết thời gian nộp tiền);
d) Do sự thỏa thuận giữa Tổ chức được giao thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất, người mua được khu đất bán đấu giá và Tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Trong trường hợp kết quả đấu giá bị hủy theo quy định tại khoản 1 Điều này, thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau diện tích đất đã nhận, trường hợp không hoàn trả bằng diện tích đất thì phải trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Việc tổ chức đấu giá lại quyền sử dụng đất bị hủy kết quả bán đấu giá được thực hiện như đối với bán đấu giá lần đầu.