Điều 10. Tiêu huỷ tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước, sửa đổi, bổ sung, giải mật danh mục bí mật Nhà nước.
1. Việc tiêu huỷ tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước do Giám đốc Sở (hoặc tương đương) quyết định (đối với mật mã thực hiện theo các quy định của Ban cơ yếu Chính phủ).
2. Quá trình tiêu huỷ tài liệu, vật mang bí mật nhà nước phải đảm bảo yêu cầu, không để lộ, lọt bí mật Nhà nước. Tiêu huỷ vật thuộc phạm vi bí mật Nhà nước phải làm thay đổi hình dạng và tính năng tác dụng. Tiêu huỷ tài liệu phải đốt, xén, nghiền nhỏ đảm bảo không thể phục hồi được.
Trong trường hợp đặc biệt không có điều kiện tổ chức tiêu huỷ tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước theo các quy định trên, nếu tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không được tiêu huỷ ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc các lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước đó được quyền tự tiêu huỷ nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và Công an tỉnh. Nếu việc tiêu huỷ tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước không có lý do chính đáng thì người tự tiêu huỷ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
3. Vào quý I hàng năm, Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, sửa đổi, bổ sung, giải mật danh mục bí mật nhà nước thuộc độ “Tuyệt mật”, “Tối mật”, “Mật” của tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an phê duyệt.
4. Việc tiêu huỷ tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước phải có văn bản đề nghị của cơ quan nơi ban hành tài liệu, vật gốc, có quyết định của người có thẩm quyền cho tiêu huỷ; Lập Hội đồng tiêu huỷ; Lập biên bản thống kê đầy đủ nêu rõ thời gian, địa điểm, tài liệu, vật mang bí mật Nhà nước được tiêu huỷ, phương thức tiến hành người thực hiện. Biên bản tiêu huỷ lưu giữ tại bộ phận bảo mật của cơ quan.