vanban.org

Điều 15. Quy định về xét khen thưởng và đề nghị khen thưởng — Quyết định 2218/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/06/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/06/2015 Thay thế: 06/2015/QĐ-UBND · 22/05/2015
Hà Giang Ban hành 11/10/2011 Hiệu lực 21/10/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 14 năm
Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hà Giang · 06/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 2218/2011/QĐ-UBND ban hành Quy định về công tác Thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Hà Giang · 2218/2011/QĐ-UBND
01/06/201506/2015/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 21/10/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 2218/2011/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Quy định về xét khen thưởng và đề nghị khen thưởng

1. Không xét khen danh hiệu Tập thể Lao động tiên tiến, danh hiệu Tập thể Lao dộng xuất sắc cho các tập thể: sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, các huyện, thành phố thuộc tỉnh. Khi đề nghị khen tặng Huân chương Lao động, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho các tập thể trên, trong thời gian đề nghị xét khen phải có ít nhất 2/3 số đơn vị trực thuộc đạt danh hiệu "Tập thể Lao động xuất sắc" hàng năm.

Hình thức “Cờ Thi đua” quy định trong tiêu chuẩn, điều kiện xét khen thưởng Huân chương, bao gồm: Cờ Thi đua của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Cờ Thi đua của Bộ, ngành Trung ương, Cờ Thi đua của Chính phủ.

2. Khen thưởng quá trình cống hiến: Chỉ xem xét đề nghị khen thưởng cho các cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn khi đã nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ hưu và đề nghị truy tặng khen thưởng cho cá nhân có thời gian giữ chức vụ được xét khen thưởng đã từ trần; không căn cứ vào thành tích đã được khen thường xuyên để đề nghị nâng hạng khen quá trình cống hiến.

3. Tùy theo mức độ thành tích lập được, để xét khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng (điển hình tiêu biểu ở cấp nào thì cấp đó khen); Trong một năm, ngoài khen thưởng thường xuyên và khen danh hiệu thi đua, mỗi đối tượng chỉ được xét tặng một "Bằng khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh" trong khen chuyên đề, khen tổng kết công tác chuyên môn, trừ trường hợp khen thưởng thành tích đột xuất.

4. Không trình hai hình thức khen thưởng cấp Nhà nước cho một đối tượng trong một năm (bao gồm: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Chiến sĩ thi đua toàn quốc, Huân chương, các danh hiệu vinh dự Nhà nước) trừ trường hợp khen thưởng thành tích đột xuất. Các trường hợp đề nghị tặng thưởng Huân chương có điều kiện tiêu chuẩn liên quan đến ''Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ'', thì sau 2 năm được tặng ''Bằng khen Thủ tướng Chính phủ'' mới đề nghị xét tặng Huân chương. Không cộng thành tích đã được xét khen thưởng để trình khen thưởng hình thức thấp hơn hình thức đã khen.

5. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc ngành dọc quản lý về biên chế, quỹ lương (gồm: Liên đoàn Lao động, Thống kê, Hải quan, Thuế, Kho bạc, Ngân hàng, các Doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh và lực lượng vũ trang) xem xét khen thưởng, đề nghị cấp trên xét khen thưởng các danh hiệu Thi đua và hình thức khen thưởng cấp Nhà nước theo ngành dọc.

Uỷ ban nhân dân tỉnh xét khen thưởng “Cờ Thi đua của Uỷ ban nhân dân tỉnh”, “Bằng khen của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh” cho các đối tượng thuộc cơ quan, đơn vị ngành dọc tham gia các khối giao ước thi đua của tỉnh, tích cực thực hiện phong trào thi đua của tỉnh và có nhiều thành tích xuất sắc, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang.

6. Các hình thức khen thưởng khác không quy định trong văn bản này được thực hiện theo Luật Thi đua khen thưởng, Nghị định 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ và Thông tư số 02/ 2011/TT-BNV ngày 24 tháng 01 năm 2011của Bộ Nội vụ cùng các văn bản quy định, quy chế của cấp có thẩm quyền về việc xét khen thưởng các hình thức đó.

7. Các ngành: Văn hóa Thể Thao và Du lịch, Giáo dục, Y tế, lực lượng vũ trang thực hiện bình xét danh hiệu thi đua, xét khen thưởng theo tiêu chuẩn quy định tại văn bản này kết hợp với tiêu chuẩn quy định của ngành chuyên môn theo Thông tư hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương ( ngành dọc).