Điều 4. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ
1. Bồi thường, hỗ trợ đối với cây trồng
a. Sản lượng các loại cây lương thực để tính bồi thường được lấy theo năng suất bình quân tại địa phương (số liệu niên giám thống kê). Đối với cây trồng hàng năm được bồi thường bằng giá trị 01 (một) vụ thu hoạch.
b. Đối với thóc: Mức bồi thường được tính theo giá thóc trên thị trường tại thời điểm bồi thường.
c. Trường hợp cây trồng dày vượt quá định mức quy định (định mức trồng các loại cây) thì chỉ được tính bồi thường theo đúng định mức, số lượng cây trồng vượt định mức không được bồi thường. Trường hợp cây cối hoa màu trồng thấp hơn định mức quy định thì bồi thường theo số lượng cây thực tế.
Riêng đối với số lượng cây bạch đàn, phi lao, keo, tràm trồng tập trung theo mật độ quy định (2.000 cây/ha), mật độ trồng tối đa 2.500 cây/ha, số lượng cây vượt được hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường quy định, cụ thể: Mức hỗ trợ = số lượng cây vượt x 50% (đơn giá 1,0 ha/2.000 cây).
d. Đối với các loại cây, hoa màu khác không có trong quy định này thì căn cứ vào loại cây tương đương để xác định mức bồi thường. Trường hợp không có loại cây tương đương thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì phối hợp với chủ đầu tư khảo sát giá thị trường tại thời điểm và có sự thống nhất của Sở Tài chính để xác định mức bồi thường phù hợp.
đ. Đối với các loại cây, rau trồng sau thời điểm thông báo thu hồi đất thì không được bồi thường.
e. Các loại cây cối, hoa màu khi được bồi thường, chủ tài sản tự chặt hạ hoặc di dời để giải phóng mặt bằng và được hưởng sản phẩm thu hồi. Trường hợp cần giữ lại số cây, hoa màu để đảm bảo môi trường chung thì 2 bên chủ sử dụng đất cũ và chủ sử dụng đất mới tự thỏa thuận thêm.
f. Đối với các loại cây có tách riêng phần cây trồng tập trung và cây trồng phân tán, nếu diện tích đất tập trung trồng cây lớn hơn 300m² thì tính trồng cây tập trung; trường hợp trên diện tích đó có nhiều loại cây trồng hỗn hợp, sau khi chọn 1 loại cây chính (có mật độ trồng cây lớn nhất) là cây trồng tập trung. Các loại cây còn lại được tính theo số lượng cây thực tế nhân với 50% đơn giá bồi thường.
g. Bồi thường đối với cây trong và ngoài hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp thực hiện theo quy định tại khoản 16 Điều 1 Nghị định số 51/2020/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể:
- Cây trong hành lang và có trước khi có thông báo thu hồi đất để xây dựng lưới điện nếu không phải chặt bỏ và cấm trồng theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP thì đơn vị quản lý vận hành có trách nhiệm kiểm tra, chặt, tỉa cây để đảm bảo an toàn cho lưới điện và được bồi thường 100% mức quy định.
- Cây ngoài hành lang và có thể vi phạm khoảng cách an toàn theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP thì đơn vị quản lý vận hành có trách nhiệm kiểm tra, chặt, tỉa cây để đảm bảo an toàn cho lưới điện và được bồi thường 100% mức quy định
- Mức bồi thường đối với cây trồng trong và ngoài hành lang được thực hiện 01 (một) lần đối với 01 (một) cây.
h. Ký hiệu Φ: Đường kính gốc được xác định tại vị trí đo cách mặt đất 30cm.
2. Bồi thường đối với mộ trên đất:
- Khi xác định giá bồi thường đối với mộ chôn (chưa cải táng) phải căn cứ vào giấy chứng tử do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
- Đối với lăng, mộ xây kết cấu đặc biệt, lăng mộ xây có tính kỹ thuật, mỹ thuật cao: Hội đồng bồi thường căn cứ vào dự toán, khối lượng, tính chất kỹ thuật, mỹ thuật cụ thể để xác định mức bồi thường cho phù hợp với thực tế.
3. Bồi thường chi phí di chuyển ra khỏi hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện cao áp trên không thực hiện theo quy định tại khoản 15 Điều 1 Nghị định số 51/2020/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể:
Nhà ở, công trình đã đáp ứng được điều kiện để tồn tại trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện cao áp trên không, nếu chủ sở hữu di chuyển ra khỏi hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện thì được bồi thường chi phí di chuyển theo mức quy định.