vanban.org

Điều 12. Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân. — Quyết định 22/2005/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Hậu Giang Ban hành 19/05/2005 Hiệu lực 03/06/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 22/2005/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của Quy định này.

2. Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ cụ thể như sau:

a. Được hỗ trợ 50% giá đất ở liền kề đối với diện tích đất trong hạn mức của đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định;

b. Đối với diện tích đất vượt hạn mức đất ở đã quy định thì được hỗ trợ 30% giá đất ở liền kề;

c. Việc hỗ trợ giá đất ở liền kề được quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều này thuộc diện tích đất trong hạn mức và ngoài hạn mức phải đảm bảo trong phạm vi thâm hậu 20m đối với đất ở đô thị và 30m đối với đất ở nông thôn.

3. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau:

a. Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường;

b. Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này thì không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

4. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Quy định này; nếu trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính là nông nghiệp thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét để giao đất mới phù hợp với điều kiện của địa phương.

5. Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường, người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

6. Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại và được hỗ trợ theo quy định như sau:

a. Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân giao nhận khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yêu từ sản xuất nông nghiệp; mức hỗ trợ bằng 100% giá đất bồi thường tính theo diện tích đất nông nghiệp thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.

b. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng tại điểm a khoản này, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

c. Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi, không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.