vanban.org

Điều 17. Những trường hợp không được bồi thường đất — Quyết định 209/2004/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 28/12/2005
Đà Nẵng Ban hành 28/12/2004 Hiệu lực 01/01/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 22 năm
Quyết định số 209/2004/QĐ-UB Về việc ban hành quy định tạm thời về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 209/2004/QĐ-UB
01/01/2005Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 164/2004/QĐ-UB Về việc sửa đổi, bổ sung điều 33 quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ban hành kèm theo quyết định số 122/2003/QĐ-UB ngày 24 tháng 7 năm 2003 của ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng · 164/2004/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 209/2004/QĐ-UB › Chương II › Điều 17
Đọc toàn văn

Điều 17. Những trường hợp không được bồi thường đất

1. Người bị thu hồi đất không thuộc một trong các điều kiện quy định tại Điều 7 Quy định này hoặc tại thời điểm sử dụng đất vi phạm quy hoạch chi tiết; vi phạm hành lang bảo vệ công trình, đang tranh chấp, lấn, chiếm trái phép.

2. Người mua thanh lý, hóa giá nhà làm việc, nhà xưởng, nhà kho của tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nhà nước chưa nộp tiền sử dụng đất.

3. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; đất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

4. Đất bị thu hồi thuộc một trong các trường hợp:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả.

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất.

c) Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền.

d) Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:

d.1- Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm.

d.2- Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm.

đ) Cá nhân sử dụng đất đã chết mà không có người thừa kế.

e) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.

g) Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.

h) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn.

i) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liền.

k) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép.

l) Đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng.

m) Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích xã, phường.

5. Người bị thu hồi đất có một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 và 4 Điều 7, nhưng thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 và 4 Điều này.

Trong những trường hợp cụ thể xét thấy cần phải hỗ trợ thì UBND thành phố xem xét quyết định trên cơ sở đề nghị của Hội đồng bồi thường.