vanban.org

Điều 8. Phối hợp xử lý vi phạm — Quyết định 19/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/11/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 29/11/2015 Thay thế: 66/2015/QĐ-UBND · 19/11/2015
Bình Thuận Ban hành 30/05/2014 Hiệu lực 09/06/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 12 năm
Quyết định số '41/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh sau đăng ký thành lập · 41/2025/QĐ-UBND
Quyết định số 66/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập trên địa bàn tỉnh Bình Thuận · 66/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 19/2014/QĐ-UBND Ban hành quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh sau đăng ký thành lập trên địa bàn tỉnh Bình Thuận · 19/2014/QĐ-UBND
29/11/201566/2015/QĐ-UBNDNgưng hiệu lực Đang xem 09/06/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 19/2014/QĐ-UBND › Chương III › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Phối hợp xử lý vi phạm

1. Các sở, ngành cấp tỉnh, cơ quan thanh tra chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách nhiệm kiểm tra hoặc phối hợp kiểm tra xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh vi phạm trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

2. Khi phát hiện doanh nghiệp, hộ kinh doanh có hành vi vi phạm các nội dung được quy định tại Điều 7 Quy chế này, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh theo thẩm quyền hoặc thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật.

3. Khi phát hiện doanh nghiệp, hộ kinh doanh có hành vi vi phạm, cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải đình chỉ ngay hành vi vi phạm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và tiến hành xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Trường hợp vi phạm các quy định phải thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 2, Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2005 và hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 61 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ, cơ quan xử lý vi phạm phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh về việc vi phạm đó trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc đợt kiểm tra, kèm theo hồ sơ xác định vi phạm để cơ quan đăng ký kinh doanh có căn cứ ra thông báo thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh đồng thời thông báo cho chính quyền địa phương biết.

4. Trường hợp doanh nghiệp, hộ kinh doanh vi phạm về quy định sử dụng Giấy phép kinh doanh, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, Chứng chỉ hành nghề, vốn pháp định và quy định khác về điều kiện kinh doanh thì cơ quan chuyên ngành xử lý vi phạm có trách nhiệm thông báo bằng văn bản, kèm theo hồ sơ xác định vi phạm cho cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc đợt kiểm tra của doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Trên cơ sở đó, cơ quan đăng ký kinh doanh ra thông báo yêu cầu doanh nghiệp, hộ kinh doanh ngừng kinh doanh ngành nghề không đủ điều kiện theo quy định.