Điều 19. Các trường hợp Nhà nước thực hiện thu hồi đất hoặc không thực hiện thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư
1. Các trường hợp Nhà nước thực hiện thu hồi đất:
1.1. Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế quy định tại Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.
1.2. Thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP.
1.3. Thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế quan trọng, khu dân cư, phát triển kinh tế trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn quy định tại Điều 34 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
1.4. Thu hồi đất để xây dựng các khu kinh doanh tập trung có cùng chế độ sử dụng đất quy định tại Điều 35 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
1.5. Thu hồi đất trong trường hợp đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn quy định tại Điều 38 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
1.6. Thu hồi đất trong trường hợp người đang sử dụng đất không có các quyền chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất quy định tại Điều 39 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
1.7. Thu hồi đất trong trường hợp đất thuộc diện Nhà nước thu hồi mà nhà đầu tư đã chủ động đề nghị và được phép thỏa thuận nhưng không đạt được sự thoả thuận với người sử dụng đất quy định tại Điều 40 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
2. Các trường hợp Nhà nước không thực hiện việc thu hồi đất:
Nhà nước không thực hiện thu hồi đất đối với những dự án không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Sau khi giới thiệu địa điểm, chủ đầu tư và người sử dụng đất thoả thuận theo hình thức nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thuê lại đất và làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp thay đổi mục đích sử dụng đất.
3. Áp dụng thủ tục đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất theo quy định tại khoản 1 Điều này được quy định như sau:
3.1. Trường hợp không thực hiện theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất thì trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại các Điều 29, 30 và 31 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ.
3.2. Trường hợp theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất thì thực hiện thu hồi đất giao cho Tổ chức Phát triển quỹ đất thực hiện giải phóng mặt bằng và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào văn bản công nhận kết quả đấu giá của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và giấy xác nhận đã nộp đủ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất của người trúng đấu giá, cơ quan Tài nguyên và Môi trường làm thủ tục trình UBND cùng cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận (chỉ chứng nhận về quyền sử dụng đất) mà không phải ban hành quyết định hành chính đối với trường hợp đấu giá nộp tiền sử dụng đất (không áp dụng đối với trường hợp nộp tiền thuê đất).
4. Áp dụng thủ tục đối với trường hợp Nhà nước không thực hiện thu hồi đất quy định tại khoản 2 Điều này được quy định như sau:
4.1. Trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai để thực hiện dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà phải chuyển mục đích sử dụng đất sau khi nhận chuyển nhượng thì được lựa chọn một trong hai hình thức sau:
a) Sử dụng đất dưới hình thức coi như được giao đất có thu tiền sử dụng đất. Trong trường hợp này, nhà đầu tư phải nộp tiền sử dụng đất để được chuyển mục đích sử dụng đất và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 110 của Luật Đất đai 2003.
b) Sử dụng đất dưới hình thức thuê đất của Nhà nước. Trong trường hợp này, nhà đầu tư phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật Đất đai năm 2003; có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 110 của Luật Đất đai năm 2003 trong thời hạn đã trả trước tiền thuê đất với trường hợp số tiền thuê đất đã trả trước cho thời gian từ năm (05) năm trở lên.
4.2. Khoản tiền nhà đầu tư thực tế đã trả để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xử lý như sau:
a) Được trừ vào số tiền sử dụng đất để được chuyển mục đích sử dụng đất mà nhà đầu tư phải nộp cho Nhà nước để được sử dụng đất quy định tại điểm a tiết 4.1 khoản 4 Điều này.
b) Được coi là khoản tiền thuê đất mà nhà đầu tư đã trả trước cho Nhà nước để được thuê đất quy định tại điểm b tiết 4.1 khoản 4 Điều này.
4.3. Khoản tiền mà nhà đầu tư đã trả để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất quy định tại tiết 4.2 khoản 4 Điều này được xác định trên cơ sở giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường nhưng không được vượt quá số tiền phải bồi thường, hỗ trợ về đất tương ứng với trường hợp nhà nước thu hồi đất.
4.4. Khoản tiền thực tế mà nhà đầu tư đã trả để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất quy định tại tiết 4.3 khoản 4 Điều này được tính vào chi phí đầu tư dự án của nhà đầu tư.
4.5. Việc định giá đất đối với đất mà nhà đầu tư đã trả để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và định giá đất để giao đất, cho thuê đất, bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện dưới hình thức thuê dịch vụ tư vấn của các tổ chức tư vấn về giá đất được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật và do Sở Tài chính thẩm định trước khi trình UBND cấp tỉnh quyết định.