vanban.org

Điều 24. Giám sát đánh giá dự án đầu tư — Quyết định 1881/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/01/2017 Thay thế: 39/2016/QĐ-UBND · 20/12/2016 Sửa đổi, bổ sung: 03/2014/QĐ-UBND · 06/03/2014
Cao Bằng Ban hành 21/08/2009 Hiệu lực 31/08/2009 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 9 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 63/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số nội dung về quản lý hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 63/2025/QĐ-UBND
Quyết định số 37/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số nội dung quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 37/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 39/2016/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số nội dung quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 39/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 1881/2009/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 1881/2009/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1881/2009/QĐ-UBND › Chương V › Điều 24
Đọc toàn văn

Điều 24. Giám sát đánh giá dự án đầu tư

1. Giám sát đánh giá dự án đầu tư theo các giai đoạn

a) Giám sát chuẩn bị đầu tư là việc kiểm tra của cơ quan quản lý cấp trên đối với cấp dưới về quá trình chuẩn bị đầu tư và ra quyết định đầu tư của dự án kiểm tra sự đảm bảo các quy định về pháp lý trong việc chuẩn bị đầu tư lập thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, và đánh giá năng lực của chủ đầu tư.

b) Giám sát, đánh giá quá trình thực hiện dự án đầu tư là việc theo dõi kiểm tra xác định mức độ đạt được của quá trình thực hiện dự án theo quyết định đầu tư đã phê duyệt.

c) Đánh giá sau thực hiện đầu tư là việc tổng hợp đánh giá toàn bộ quá trình đầu tư một cách toàn diện từ khâu chuẩn bị đến khâu hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng và quá trình khai thác vận hành dự án.

2. Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện giám sát, đánh giá dự án đầu tư theo Thông tư số 03/2003/TT-BKH ngày 19 tháng 5 năm 2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và báo cáo theo mẫu quy định gửi về Sở Kế hoạch và Đầu tư định kỳ 3 tháng 1 lần chậm nhất vào ngày mùng 5 của tháng đầu quý sau và mùng 5 tháng 1 năm sau.