Điều 8. Thu, nộp, miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước.
- Người thuê đất, thuê mặt nước nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước theo thông báo của cơ quan Thuế quy định tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ và Thông tư số 120/TT-BTC ngày 30/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP và Thông tư số 141/2007/TT-BTC ngày 30/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30/12/2005 của Bộ Tài chính.
- Trường hợp người thuê đất ký hợp đồng thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày 01/01/2006 thực hiện theo Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ và bản quy định này.
- Trường hợp người thuê đất đã ký hợp đồng thuê đất, thuê mặt nước từ trước 01/01/2006:
Cơ quan Thuế tổng hợp danh sách và đề xuất phương án giá điều chỉnh thống nhất với Sở Tài chính để xác định giá cho thuê cụ thể đối với từng đối tượng sử dụng đất, thuê mặt nước trên cơ sở bảng giá đất đã được Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành tại thời điểm điều chỉnh.
Người thuê đất đã nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước cho cả thời gian hợp đồng thuê đất theo quy định của Luật đất đai thì không phải tính lại đơn giá thuê đất theo Quy định này.
Người thuê đất đã nộp tiền thuê đất thuê mặt nước cho nhiều năm nhưng chưa hết toàn bộ thời gian thuê thì trong thời hạn đã nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước không phải tính lại đơn giá đã cho thuê, khi đến thời hạn phải nộp tiền thuê đất của thời gian thuê đất tiếp theo thì đơn giá thuê đất, thuê mặt nước phải được xác định lại theo giá đất tại thời điểm thuê đất tiếp theo đó.
- Trường hợp người thuê đất đang sử dụng đất, mặt nước thuộc đối tượng nộp tiền thuê đất thuê mặt nước nhưng chưa ký hợp đồng thuê đất thuê mặt nước thì việc tính tiền thuê đất thuê mặt nước vẫn do cơ quan Thuế tính tiền thuê đất thuê mặt nước theo Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ và bản Quy định này theo giá đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp kể từ ngày 01/01/2006 để thu tiền thuê đất.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc các đơn vị gửi văn bản đến cơ quan Tài chính tổng hợp cùng các cơ quan Tài nguyên và Môi trường, cơ quan Thuế xem xét báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định.