Điều 19. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp có sự chênh lệch giữa số liệu diện tích đo đạc thực tế với số liệu diện tích đã ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Trường hợp ranh giới thửa đất không thay đổi nhưng số liệu đo đạc thực tế theo đúng quy phạm kỹ thuật về đo đạc địa chính có diện tích thửa đất nhỏ hơn diện tích đã ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì Giấy chứng nhận được cấp theo số liệu diện tích đo đạc thực tế; người sử dụng đất không được hoàn trả số tiền sử dụng đất đã nộp (nếu có) đối với phần diện tích chênh lệch giảm giữa diện tích đo đạc thực tế so với diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất.
2. Trường hợp số liệu đo đạc thực tế theo đúng quy phạm kỹ thuật về đo đạc địa chính mà diện tích thửa đất lớn hơn diện tích đã ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được thực hiện theo Khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai và Khoản 20 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, cụ thể:
a) Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề (trừ các trường hợp đang sử dụng đất do giao đất không đúng thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều này) thì khi cấp Giấy chứng nhận diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có;
b) Trường hợp đo đạc lại mà diện tích thửa đất thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất và ranh giới thửa đất thực tế có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ sử dụng đất (trừ các trường hợp đang sử dụng đất do giao đất không đúng thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều này) thì việc xem xét cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất tăng thêm được thực hiện như sau:
- Trường hợp diện tích đất tăng thêm do nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất đã có Giấy chứng nhận thì thực hiện theo quy định tại điểm 1 Khoản 20 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP. Trường hợp diện tích đất tăng thêm do nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 1/7/2014 mà diện tích tăng thêm có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 12 của quy định này thì thực hiện theo quy định tại điểm 2 Khoản 20 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP.
Người sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính (nếu có) khi cấp giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 10/2018/TT-BTC ngày 30/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 76/2014/TT-BTC (sau đây gọi là Thông tư 10/2018/TT-BTC);
- Trường hợp diện tích đất tăng thêm không có giấy tờ về quyền sử dụng đất (trừ các trường hợp đang sử dụng đất do giao đất không đúng thẩm quyền thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều này) thì thực hiện như sau:
+ Trường hợp người sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai thì việc xem xét xử lý và cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất tăng thêm thực hiện theo quy định tại Điều 20 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP; Người sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính (nếu có) khi cấp giấy chứng nhân theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 10/2018/TT-BTC;
+ Trường hợp diện tích đất tăng thêm do người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì xem xét xử lý và cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất tăng thêm thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP và Khoản 18 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP; Người sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính (nếu có) khi cấp giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 10/2018/TT-BTC.
3. Trường hợp số liệu đo đạc thực tế theo đúng quy phạm kỹ thuật về đo đạc địa chính mà diện tích thửa đất lớn hơn diện tích đã ghi trên giấy tờ do người sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì việc xem xét xử lý và cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất tăng thêm thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Người sử dụng đất phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính (nếu có) khi cấp giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 10/2018/TT-BTC.
4. Việc xác định diện tích đất ở và đất vườn, ao gắn liền với đất ở đối với các trường hợp chênh lệch diện tích giữa diện tích ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất với diện tích đo đạc thực tế.
a) Diện tích đất ở được xác định theo quy định tại các Điều 14, Điều 15, Điều 16 và Khoản 3 Điều 23 của quy định này;
b) Diện tích đất còn lại ngoài diện tích đất ở được xác định theo hiện trạng sản xuất nông nghiệp.