Điều 7. Giá đất bồi thường và mức bồi thường thiệt hại.
1. Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đã được UBND tỉnh quy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng.
Trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND tỉnh quyết định giá bồi thường đất cho phù hợp.
2. Bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp:
2.1. Đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 6, Quy định này được bồi thường theo đơn giá đất được quy định theo từng dự án.
Tuy nhiên, nếu đất chưa có Giấy CNQSDĐ hoặc người đang sử dụng đất nhận cho, tặng, sang nhượng đất từ người khác nhưng chưa làm thủ tục đăng ký cấp giấy CNQSDĐ; thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì Chủ dự án phối hợp cùng Chi cục thuế các huyện, thị xã xác định nghĩa vụ thuế của người sử dụng đất còn phải nộp và khấu trừ vào tiền bồi thường.
2.2. Đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư tập trung, đất vườn ao liền kề với đất ở khu dân cư tập trung, ngoài việc bồi thường theo giá cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ bằng một phần giá đất ở liền kề theo vị trí tương ứng. Mức hỗ trợ cụ thể theo từng dự án.
Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư tập trung, đất vườn ao liền kề với đất ở khu dân cư tập trung bao gồm các trường hợp và hỗ trợ như sau :
a) Diện tích đất được hỗ trợ là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp, đất vuờn ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở thuộc khu vực:
- Trong phạm vi địa giới hành chính các phường;
- Trong phạm vi khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn được xác định ranh giới theo quy họach được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; truờng hợp khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn chưa có quy hoạch thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng khu dân cư.
b) Đối với diện tích đất nông nghiệp, đất vuờn ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, nhà ở dọc theo các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên huyện nhưng không thuộc các khu vực quy định tại điểm a mục này thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa đất bằng 5 lần hạn mức đất ở tại địa phương (nhưng không vượt quá diện tích thu hồi đất).
c) Đối với diện tích đất thuộc thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới các khu vực điểm a mục này thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa đất bằng 5 lần hạn mức đất ở tại địa phương (nhưng không vượt quá diện tích thu hồi đất).
2.3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức (03 ha đối với đất trồng cây hàng năm, 10 ha đối với đất trồng cây lâu năm) thì việc bồi thường được thực hiện như sau:
Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc sử dụng trước ngày 15/10/1993 không có tranh chấp được UBND cấp xã xác nhận về diện tích đất vượt hạn mức do nhận chuyển nhượng trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường như quy định tại điểm 2.1, khoản 2, Điều này.
Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm 2.3 nêu trên thì không bồi thường về đất, chỉ được hỗ trợ 30% theo đơn giá đất nông nghiệp tương ứng.
2.4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các Nông Lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi thì không bồi thường về đất, nhưng được hỗ trợ. Mức hỗ trợ cụ thể do UBND tỉnh xem xét, quyết định theo từng dự án.
2.5. Đất nông nghiệp sử dụng chung của Nông trường, Lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi, không bồi thường về đất nhưng hỗ trợ 3.000.000 đồng/ha chi phí đầu tư vào đất nếu chi phí này không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
2.6. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi mà đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại Điều 5, Quy định này, nếu trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập chính là từ sản xuất nông nghiệp trên đất bị thu hồi thì được xem xét hỗ trợ. Mức hỗ trợ cụ thể do UBND tỉnh xem xét, quyết định theo từng dự án. Việc hỗ trợ này chỉ áp dụng đối với đất sử dụng trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực).
2.7. Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường về đất. Người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn được hỗ trợ 3.000.000 đồng/ha chi phí đầu tư vào đất.
3. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất là đất ở :
3.1. Đất đang sử dụng vào mục đích làm nhà ở thì được bồi thường theo đơn giá đất ở quy định theo từng dự án.
Nếu đất chưa có Giấy CNQSDĐ hoặc người đang sử dụng đất nhận cho, tặng, sang nhượng đất từ người khác nhưng chưa làm thủ tục đăng ký cấp giấy CNQSDĐ; thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì Chủ dự án phối hợp cùng Chi cục thuế các huyện, thị xã xác định nghĩa vụ thuế của người sử dụng đất còn phải nộp và khấu trừ vào tiền bồi thường.
3.2. Đất nông nghiệp đã được cấp giấy CNQSDĐ và được bắt đầu sử dụng ổn định để ở trong khoản thời gian từ sau ngày 15/10/1993 đến ngày 01/7/2004. Nếu hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất có nhà ở ổn định và có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú tại nơi bị giải toả thì được hỗ trợ 50% đơn giá đất ở. Trường hợp đất nhận chuyển nhượng (mua) của người khác thì mức hỗ trợ 45% đơn giá đất ở. Diện tích đất ở hỗ trợ được xác định theo quy định tại điểm 3.4, Điều này.
3.3. Đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân được bồi thường, hỗ trợ theo điểm 3.1, khoản 3, Điều này nhưng thuộc đối tượng được miễn giảm tiền sử dụng đất và chưa được miễn giảm lần nào (theo quy định tại Nghị định số 7863/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ) thì số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất ở được cộng thêm số tiền đựơc miễn giảm (theo xác nhận của Chi cục thuế) nhưng tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất ở tối đa bằng 100% mức bồi thường.
3.4. Các trường hợp đất được bồi thường, hỗ trợ theo đơn giá đất ở (thổ cư), diện tích đất ở được bồi thường, hỗ trợ xác định như sau:
a) Trường hợp thu hồi hết đất:
- Đất ở đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ): Diện tích đất ở bồi thường, hỗ trợ theo diện tích đất ở ghi trong Giấy CNQSDĐ;
- Đất chưa có Giấy CNQSDĐ và đất nông nghiệp quy định tại Điểm 3.2, Khoản 3, Điều này: Diện tích đất ở bồi thường, hỗ trợ được tính theo hạn mức đất ở (300 m2 đối với khu vực đô thị và 400 m2 đối với khu vực nông thôn). Trường hợp đất thu hồi có diện tích thấp hơn hạn mức diện tích đất ở thì bồi thường, hỗ trợ theo diện tích thực tế thu hồi.
b) Trường hợp không thu hồi hết đất:
- Đất ở đã có Giấy CNQSDĐ thì diện tích bồi thường đất ở được xác định bằng diện tích đất ở ghi trong Giấy CNQSDĐ nhân với tỉ lệ diện tích đất thu hồi so với tổng diện tích thửa đất hoặc theo yêu cầu của chủ hộ nhưng không vượt quá diện tích đất ở ghi trong Giấy CNQSDĐ;
- Đất chưa có Giấy CNQSDĐ và đất nông nghiệp quy định tại Điểm 3.2, Khoản 3, Điều này: Diện tích bồi thường, hỗ trợ đất ở được xác định bằng hạn mức đất ở nhân với tỉ lệ diện tích đất thu hồi so với tổng diện tích thửa đất (nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi).”
Điều 2. Ngoài nội dung điều chỉnh nói trên, các nội dung khác vẫn thực hiện theo Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 18/4/2008 của UBND tỉnh.
Điều 3. Các ông (bà): Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các Sở: Tài chính, Tài nguyên & Môi trường, Kế hoạch & Đầu tư, Xây dựng, Công Thương, Nông nghiệp & PTNT, Giao thông Vận tải, Giáo dục & Đào tạo, Y tế, Văn hóa - Thể thao & Du lịch, Lao động Thương binh & Xã hội; Trưởng ban Ban Quản lý các KCN, Trưởng ban Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Hoa Lư, Cục trưởng Cục Thuế, Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký./.