vanban.org

Điều 28. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất — Quyết định 13/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/04/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/04/2018 Thay thế: 18/2018/QĐ-UBND · 30/03/2018
Bình Phước Ban hành 08/06/2015 Hiệu lực 18/06/2015 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 05/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 05/2025/QĐ-UBND
Quyết định số 18/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 18/2018/QĐ-UBND
Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND Ban hành quy định về chính sách, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 13/2015/QĐ-UBND
10/04/201818/2018/QĐ-UBNDThay cụm từ Đang xem 18/06/2015Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 13/2015/QĐ-UBND › Chương III › Điều 28
Đọc toàn văn

Điều 28. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật, còn sử dụng được thì ngoài việc được bồi thường hoặc hỗ trợ phần bị thiệt hại theo thực tế còn được hỗ trợ phần kinh phí sửa chữa, cải tạo phần còn lại của nhà ở, công trình. Kinh phí hỗ trợ, sửa chữa, cải tạo phần còn lại của nhà ở, công trình là 20% giá trị thiệt hại đã được bồi thường.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định sau:

a) Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó;

b) Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định theo công thức sau:

T_{gt} = G_1 - G_1 \times T_1/T

Trong đó:

T_{gt}: Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại;

G_1: Giá trị xây mới nhà, công trình bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành;

T: Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình bị thiệt hại;

T_1: Thời gian nhà, công trình bị thiệt hại đã qua sử dụng.

c) Tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình được xác định như sau:

Chỉ số thời gian đã qua sử dụng - khấu haoTỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có
1-T_{1}/T > 0,90% x T_{gt}
0,6 < 1-T_{1}/T ≤ 0,910% x T_{gt}
0,3 < 1-T_{1}/T ≤ 0,620% x T_{gt}
1-T_{1}/T ≤ 0,330% x T_{gt}

Ví dụ: Một nhà xưởng cấp 4, loại 1 có diện tích xây dựng là 100m2, theo quy định có niên hạn sử dụng tối đa là 20 năm, hiện tại đã sử dụng được 10 năm. Đơn giá xây mới 1,55 triệu đồng/m2. Được bồi thường như sau:

Giá trị xây mới nhà: G_1 = 100m^2 \times 1,55 triệu = 155 triệu đồng.

Giá trị hiện có của căn nhà: T_{gt} = 155 triệu đồng - (155 triệu đồng \times 10/20) = 77,5 triệu đồng.

Vì chỉ số 1-T_{1}/T = 1-10/20 = 0,5 nên tỷ lệ phần trăm là 20%.

Mức bồi thường công trình là: 77,5 triệu đồng + 77,5 triệu đồng x 20% = 93 triệu đồng.

d) Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại không còn sử dụng được thì bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.

3. Đối với nhà, công trình xây dựng bị phá dỡ làm ảnh hưởng đến các công trình khác trong cùng một khuôn viên đất mà vẫn tồn tại nhưng không thể sử dụng được theo thiết kế, quy hoạch xây dựng ban đầu thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình đó.

4. Trường hợp nhà ở, công trình xây dựng có cấu trúc đặc biệt mang tính chất đặc thù chỉ phá dỡ một phần mà số tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để sửa chữa, hoàn thiện lại công trình, thì Hội đồng bồi thường của dự án lập dự toán, xác định mức hỗ trợ từng trường hợp cụ thể đề nghị Sở Xây dựng thẩm định. Sau khi có ý kiến của Sở Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định hỗ trợ cho chủ sở hữu để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật và kiến trúc tương đương của phần bị tháo dỡ.

5. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

6. Đối với nhà ở, công trình xây dựng, vật kiến trúc trên đất, đơn giá bồi thường do Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp huyện và các sở, ban, ngành khác có liên quan xây dựng trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; hàng năm trình Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh giá trị thực tế có thay đổi hoặc bổ sung so với đơn giá đã phê duyệt.

7. Cơ quan quản lý xây dựng (Sở Xây dựng, Phòng Kinh tế Hạ tầng) chịu trách nhiệm xác định tiêu chuẩn kỹ thuật phần còn lại của nhà, công trình còn lại theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.