vanban.org

Điều 23. Bồi thường về đất cho người đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất — Quyết định 13/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/04/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/04/2018 Thay thế: 18/2018/QĐ-UBND · 30/03/2018
Bình Phước Ban hành 08/06/2015 Hiệu lực 18/06/2015 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 05/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 05/2025/QĐ-UBND
Quyết định số 18/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 18/2018/QĐ-UBND
Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND Ban hành quy định về chính sách, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 13/2015/QĐ-UBND
10/04/201818/2018/QĐ-UBNDThay cụm từ Đang xem 18/06/2015Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 13/2015/QĐ-UBND › Chương II › Mục 3 › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Bồi thường về đất cho người đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

Khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 12 của Quy định này mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại các Điều 101 và Điều 102 của Luật Đất đai, các Điều 20, 22, 23, 25, 27 và 28 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì được bồi thường về đất. Cụ thể như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 mà không có giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4, Điều 12 của Quy định này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được bồi thường 100% đơn giá.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4, Điều 12 của Quy định này (trừ Khoản 1 Điều này) nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và tại thời điểm bắt đầu sử dụng không vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại khoản 3 Điều này thì được bồi thường:

a) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15/10/1993; nay Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất thì được bồi thường như sau:

- Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích được bồi thường đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích được bồi thường bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì bồi thường diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó.

Mức bồi thường 100% đơn giá bồi thường đối với diện tích trong hạn mức công nhận đất ở. Đối với diện tích đất ở vượt hạn mức bồi thường 50% đơn giá bồi thường;

- Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó. Mức bồi thường 100% đơn giá đất cụ thể theo mục đích sử dụng;

- Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định và bồi thường theo quy định tại tiết 1, điểm a, khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được xác định và bồi thường theo quy định tại tiết 2, điểm a, khoản này;

- Đối với diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các tiết 1, tiết 2 và tiết 3, điểm a, khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được bồi thường theo quy định điểm d, khoản này;

b) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004; nay Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất, tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất không có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 3 Điều này thì được bồi thường như sau:

- Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở thì toàn bộ diện tích được bồi thường đất ở và giá trị bồi thường phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Bảng giá đất.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích được bồi thường bằng hạn mức công nhận đất ở;

- Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại tiết 2, điểm a, Khoản này. Mức bồi thường 50% đơn giá đất bồi thường theo mục đích sử dụng;

- Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở, đất sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ thì được công nhận và bồi thường theo quy định tại tiết 1 và tiết 2, điểm b, Khoản này;

- Đối với diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các tiết 1, tiết 2 và tiết 3, điểm b, Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận và bồi thường theo quy định điểm d, Khoản này;

c) Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại các điểm a và điểm b Khoản này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng từ trước ngày 15/10/1993 và không vi phạm pháp luật về đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó;

d) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01/7/2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được giải quyết như sau:

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường theo diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương. Phần diện tích vượt hạn mức chỉ bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

- Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Điểm a và điểm b, khoản 2, Điều này thì hộ gia đình, cá nhân được bồi thường như tiết 1 điểm này;

3. Xử lý bồi thường đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014:

a) Trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ; lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng hoặc lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác thì Nhà nước thu hồi lại đất để trả lại cho công trình mà không phải bồi thường;

b) Trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông, lâm trường quốc doanh, ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp thì thực hiện xử lý như sau:

- Trường hợp đang sử dụng diện tích đất lấn, chiếm thuộc quy hoạch và bảo vệ phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì thu hồi đất đã lấn, chiếm giao cho Ban quản lý rừng quản lý, sử dụng đất mà không phải bồi thường;

- Trường hợp đang sử dụng diện tích đất lấn, chiếm thuộc quy hoạch sử dụng đất cho mục đích xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì thu hồi đất đó để giao chủ đầu tư thực hiện dự án mà không bồi thường đất;

- Trường hợp lấn chiếm đất kể từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014, đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và hiện nay diện tích đất này vẫn xác định giao cho các nông, lâm trường quản lý, sử dụng thì thu hồi đất lấn, chiếm trả lại cho nông, lâm trường mà không bồi thường đất;

- Trường hợp đất lấn, chiếm và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người bị thu hồi đất được xem xét bồi thường theo Quy định này. Riêng đối với đất có nhà ở được bồi thường như sau:

+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để ở trước ngày 15/10/1993: Diện tích bồi thường trong hạn mức đất ở nhưng phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Bảng giá đất;

+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2014: Diện tích bồi thường trong hạn mức đất ở nhưng phải trừ đi 100% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Bảng giá đất;

c) Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì không bồi thường đất.