Điều 10. Thu hồi chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư.
1. UBND tỉnh thu hồi giấy chứng nhận đầu tư dự án nếu Nhà đầu tư vi phạm một trong những trường hợp sau nhưng không giải trình được việc vi phạm do nguyên nhân khách quan:
b) Quá thời hạn 12 tháng kể từ ngày ghi trên giấy chứng nhận đầu tư, Nhà đầu tư không triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư, đầu tư xây dựng các hạng mục công trình dự án hoặc tiến độ triển khai dự án chậm quá 12 tháng so với tiến độ thực hiện dự án đầu tư quy định tại giấy chứng nhận đầu tư, trừ trường hợp được tạm ngừng hoặc giãn tiến độ thực hiện dự án được cơ quan có thẩm quyền cho phép;
c) Nhà đầu tư triển khai thực hiện không đúng theo giấy phép đầu tư.
d) Nhà đầu tư có văn bản xin không tiếp tục thực hiện dự án;
e) Nhà đầu tư không thực hiện ký cam kết đầu tư;
f) Nhà đầu tư không thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước;
h) Nhà đầu tư vi phạm các nội dung theo quy định phải thu hồi đất tại Điều 38 Luật Đất đai năm 2003;
i) Các trường hợp vi phạm khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Đồng thời với việc thu hồi nêu tại khoản 1 điều này, UBND tỉnh thu hồi quyết định giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đối với các dự án sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu UBND Tỉnh thu hồi giấy chứng nhận đầu tư.
4. Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu UBND Tỉnh thu hồi quyết định giao đất, cho thuê đất.