vanban.org

Điều 19. Bồi thường thiệt hại về hoa màu, vật nuôi : — Quyết định 122/2003/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2005 Thay thế: 209/2004/QĐ-UB · 28/12/2004
Đà Nẵng Ban hành 24/07/2003 Hiệu lực 01/08/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 23 năm
Quyết định số 209/2004/QĐ-UB Về việc ban hành quy định tạm thời về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 209/2004/QĐ-UB
Quyết định số 122/2003/QĐ-UB Ban hành quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. · 122/2003/QĐ-UB
01/08/2003Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 141/2002/QĐ-UB Về việc ban hành bản quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 141/2002/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 122/2003/QĐ-UB › Chương III › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Bồi thường thiệt hại về hoa màu, vật nuôi :

1. Mức bồi thường đối với cây hàng năm, được tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một năm theo năng suất bình quân của 3 năm trước đó.

Mức giá bồi thường cụ thể cho từng loại rau, hoa màu quy định tại phụ lục số 3 kèm theo bản Quy định này.

Đối với các vườn rau, ruộng rau có mật độ che phủ từ 70% trở lên thì được tính toán đền bù theo diện tích thực tế đang gieo trồng.

Đối với các vườn rau, ruộng rau có mật độ che phủ dưới 70% thì tùy theo từng vườn, ruộng để tính tỷ lệ phần trăm theo mật độ độ che phủ đất.

Đối với cây chiết cành tính bằng 30% giá trị đền bù của loại cây cùng loại.

Đối với con vật nuôi (kể cả trong nuôi trồng thủy sản) không tính bồi thường, Hội đồng giải phóng mặt bằng, các Ban quản lý dự án, các chủ dự án thông báo trước cho người bị giải tỏa ít nhất là ba (03) tháng để thu hoạch sản phẩm.

2. Mức bồi thường đối với cây lâu năm, cây ăn quả trồng trong vườn nhà có trồng xen kẽ các loại rau, hoa màu được tính theo đơn giá quy định tại phụ lục số 3 kèm theo Bản quy định này nhưng giá trị đền bù về cây không vượt quá 50.000đ/m2. Trường hợp cây trồng dày, vượt quá quy định thì cũng chỉ đền bù 50.000đ/m2. Trường hợp giá trị cây cối hoa màu bồi thường dưới mức quy định 50.000đ/m2 thì bồi thường theo thực tế.

3. Trường hợp đối với loại đất lúa, đất màu các hộ giải tỏa mới thay đổi cây trồng bồi thường theo thực tế mật độ rau màu che phủ đất nhưng mức bồi thường tối đa không vượt quá 65% mật độ đối với cây loại rau màu có giá trị kinh tế cao mà hộ giải tỏa mới chuyển đổi cây trồng do không có cơ sở để xác định bình quân năng suất của 3 vụ trước đó. Đơn giá bồi thường thiệt hại hoa màu tính theo đơn giá quy định tại phụ lục số 3 kèm theo bản quy định này.

4. Không bồi thường đối với các loại cây trồng sau thời điểm thông báo kiểm định.

Không đền bù các loại hoa màu trồng xen trong các vườn cây ăn quả, cây công nghiệp chuyên canh như : xoài, quế, bạch đàn, dương liễu, keo lá tràm, keo tai tượng, keo lai... sau thời điểm kiểm định.

Đối với những loại cây, hoa màu trồng chiếm dụng trên đất hoang do UBND phường, xã quản lý tùy theo từng trường hợp cụ thể hỗ trợ mức tối đa không quá 10% giá trị đền bù của loại cây hoa màu đó.

5. Đối với những vườn trồng cây chuyên canh hoặc rừng trồng, chủ dự án phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Thủy sản - Nông lâm căn cứ định mức kinh tế - kỹ thuật do Nhà nước quy định và giá trị thực tế từng loại cây tính toán cụ thể giá trị bồi thường trình Chủ tịch UBND thành phố quyết định theo nguyên tắc :

5.1. Nếu cây trồng đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản hoặc mới bắt đầu vụ thu hoạch đầu tiên thì bồi thường toàn bộ chi phí ban đầu, chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất ;

5.2. Nếu cây đang ở thời kỳ thu hoạch thì bồi thường theo giá trị còn lại của vườn cây. Giá trị còn lại của vườn cây bằng giá trị đầu tư ban đầu cộng chi phí chăm sóc đến vụ thu hoạch đầu tiên trừ phần khấu hao. Trong trường hợp không xác định được giá trị còn lại của vườn cây thì mức bồi thường tối đa bằng hai năm sản lượng tính theo sản lượng bình quân của ba năm trước đó theo giá của sản phẩm cùng loại ở thị trường Đà Nẵng tại thời điểm bồi thường ;

5.3. Nếu là loại cây lâu năm thu hoạch một lần thì bồi thường toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc tính đến thời điểm thu hồi đất ;

5.4. Nếu là cây lâu năm đến thời hạn thanh lý, cây lấy gỗ đến thời kỳ thu hoạch thì chi bồi thường chi phí cho việc chặt hạ.

Riêng đối với rừng cây bạch đàn, phi lao, quế và một số loại cây ăn quả trồng chuyên canh tập trung bồi thường theo qui định tại phụ lục số 3 kèm theo Bản quy định này và phương pháp tính bồi thường như sau :

Chu kỳ bạch đàn, phi lao và các loại keo là 7 năm; cây quế là 15 năm; cây ăn quả các loại là 5 năm. Như vậy trong thời kỳ kiến thiết cơ bản cây trồng đến năm nào thì cộng chi phí đầu tư đến năm đó để tính toán giá trị bồi thường.

Cơ sở để xác định năm trồng cây căn cứ vào Hợp đồng giao đất trồng rừng, Hợp đồng giao khoán để xác định cây trồng đến năm thứ mấy của chu kỳ. Trường hợp không xác định được năm trồng cây thì Hội đồng giải phóng mặt bằng mời Sở Thủy sản nông lâm tham gia để xác định cụ thể làm căn cứ tính toán giá trị bồi thường.

Đối với bạch đàn, phi lao và các loại keo đã trồng đến năm thứ 7 thì chỉ đền bù chi phí chặt hạ bằng 15% giá trị bồi thường đầu tư đến năm thứ 6.

Đối với cây quế trồng đến năm thứ 15 thì chỉ bồi thường chi phí chặt hạ bằng 20% giá trị bồi thường đầu tư đến năm thứ 14.

Đối với cây ăn quả từ năm thứ 6 trở đi các loại cây trên có sản phẩm thu hoạch ổn định thì tính theo điểm 5.2, khoản 5, Điều 19 của Bản quy định này.