vanban.org

Điều 15. Phương pháp xác định giá trị bồi thường về tài sản : — Quyết định 122/2003/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2005 Thay thế: 209/2004/QĐ-UB · 28/12/2004
Đà Nẵng Ban hành 24/07/2003 Hiệu lực 01/08/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 23 năm
Quyết định số 209/2004/QĐ-UB Về việc ban hành quy định tạm thời về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 209/2004/QĐ-UB
Quyết định số 122/2003/QĐ-UB Ban hành quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. · 122/2003/QĐ-UB
01/08/2003Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 141/2002/QĐ-UB Về việc ban hành bản quy định về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 141/2002/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 122/2003/QĐ-UB › Chương III › Điều 15
Đọc toàn văn

Điều 15. Phương pháp xác định giá trị bồi thường về tài sản :

1. Đối với nhà ở :

1.1. Các loại nhà cấp 1, cấp 2, cấp 3, nhà biệt thự, các công trình kiến trúc và hạng mục khác gắn liền với nhà loại trên (không tháo dỡ di chuyển được) được bồi thường bằng giá trị hiện có. Việc phân loại nhà cấp 1, 2, 3, nhà biệt thự căn cứ vào thông tư số 05/BXD-ĐT ngày 09/2/1993 của Bộ Xây dựng.

Giá trị hiện có được xác định như sau :

Giá trị bồi thường (=) diện tích sử dụng của nhà và kho tàng, công trình kiến trúc và các tài sản gắn liền với nhà nhân với (´) đơn giá xây dựng mới, nhân với (´) tỷ lệ (%) chất lượng còn lại ;

- Đơn giá xây dựng mới của nhà, kho tàng, công trình kiến trúc và các tài sản khác gắn liền với nhà được áp dụng theo phụ lục số 1 và số 2 kèm theo bản Quy định này.

- Tỷ lệ (%) chất lượng còn lại được áp dụng theo Thông tư 13/LB-TT ngày 18 tháng 8 năm 1994 của Liên bộ Xây dựng - Tài chính - Vật giá Chính phủ ;

1.2. Đối với nhà cấp 4, nhà tạm và công trình phụ độc lập gắn liền với nhà cấp 4, nhà ở tạm (như sân, tường rào, cổng, giếng nước, các công trình vệ sinh, nhà chăn nuôi gia súc) của hộ gia đình : mức bồi thường thiệt hại được tính bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có kỹ thuật tương đương theo giá tại Phụ lục số 1 và Phụ lục số 2 kèm theo Bản quy định này ;

2. Đối với nhà, kho tàng, công trình kiến trúc, và các tài sản khác gắn liền với đất của các cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể, khi bị thu hồi đất Hội đồng giải phóng mặt bằng đề xuất từng trường hợp cụ thể để trình Chủ tịch UBND thành phố xem xét quyết định.

3. Đối với nhà, kho tàng, công trình (sau đây gọi tắt là nhà) chỉ giải tỏa một phần được tính toán bồi thường như sau :

3.1. Đối với nhà có kết cấu chịu lực bằng khung bê tông cốt thép hoặc khung sắt thì được tính từ vệt giải tỏa vào đến khung chịu lực tiếp theo ; đối với nhà có kết cấu tường chịu lực hoặc kết cấu kết hợp khung chịu lực và tường chịu lực thì đền bù đến bước khung hoặc tường chịu lực gần vệt giải tỏa nhất.

3.2. Đối với nhà không có vì kèo thì phương pháp tính chấn động như sau :

- Đối với nhà xây, mái lợp ngói diện tích bồi thường được cộng thêm chấn động 1m tính từ điểm cắt sâu nhất ;

- Đối với nhà xây, mái lợp tôn diện tích đền bù được cộng thêm chấn động 0,5m tính từ điểm cắt sâu nhất ;

3.3. Đối với nhà xây, mái lợp tôn hoặc ngói, vệt giải tỏa cắt ngang qua đỉnh nhõn được tính bồi thường như sau :

- Chiều dài của phần nhà còn lại tính từ điểm cắt sâu nhất của vệt giải tỏa đến tường gần nhất nhỏ hơn hoặc bằng 3m thì bồi thường toàn bộ nhà ;

- Chiều dài của phần nhà còn lại tính từ điểm cắt sâu nhất của vệt giải tỏa đến tường gần nhất lớn hơn 3m thì bồi thường như điểm 3.2, khoản 3, điều này và phần mái nhà còn lại.

- Đối với nhà xây, mái lợp tôn hoặc ngói : chiều dài của phần nhà còn lại tính từ vệt giải tỏa đến đỉnh nhõn nhỏ hơn hoặc bằng 1,5m thì được bồi thường phần diện tích bị giải tỏa theo phương pháp bồi thường qui định chung và toàn bộ phần mái còn lại ;

3.4. Đối với nhà xây mái ngói hoặc tôn nếu vệt giải tỏa cắt ngang với vì kèo làm thay đổi kết cấu chịu lực thì được bồi thường như sau :

- Trường hợp chiều dài còn lại của phần nhà tính từ điểm cắt sâu nhất của vệt giải tỏa đến tường cuối cùng đỡ vì kèo nhỏ hơn hoặc bằng 3m thì bồi thường toàn bộ nhà ;

- Trường hợp chiều dài còn lại của phần nhà tính từ điểm cắt sâu nhất của vệt giải tỏa đến tường cuối cùng đỡ vì kèo lớn hơn 3m thì bồi thường theo phương pháp đền bù qui định chung và toàn bộ phần mái còn lại.

3.5. Đối với nhà xây mái ngói hoặc tôn nếu vệt giải tỏa dọc theo vì kèo thì bồi thường từ vệt giải tỏa đến vì kèo tiếp theo của nhà ;

3.6. Đối với các loại nhà xây trệt có mượn một hoặc hai bức tường của nhà khác thì vận dụng đơn giá nhà có cùng kết cấu và trừ đi giá trị tường thiếu theo tỷ lệ kết cấu trong Thông tư 13/LB-TT ngày 18/8/1994 của Liên Bộ Xây dựng – Tài chính – Ban Vật giá Chính phủ về đánh giá chất lượng kết cấu nhà, cụ thể :

- Thiếu 01 bức tường (cả móng) tính giảm đơn giá :

6,25 ´ Giá cùng cấp loại nhà ´ 1 lần
61

- Thiếu 02 bức tường (cả móng) tính giảm đơn giá :

6,25 ´ Giá cùng cấp loại nhà ´ 2 lần
61

3.7. Đối với các loại nhà xây có một bức tường bằng ván thì vận dụng đơn giá như điểm 1.2, khoản 1, điều này và cộng thêm giá trị vách ván 20.000đ/m2.

3.8. Đối với các loại nhà xây có 2 mặt tường xây lững và ván thì vận dụng 2 mặt tường xây lững và ván như nhà xây có một bức tường bằng ván.

3.9. Đền bù phần mái và kết cấu đỡ mái bằng 42% so với đơn giá nhà ô tơ có mức chuẩn. Trường hợp ô tơ nhà thấp hơn mức ô tơ chuẩn quy định thì đền bù phần mái và kết cấu đỡ mái theo đơn giá thực tế của nhà có ô tơ đó nhân với 42%. Trường hợp ô tơ nhà cao hơn mức ô tơ chuẩn quy định thì đền bù phần mái và kết cấu đỡ mái theo mức ô tơ chuẩn nhân với 42%.

4. Đối với vật kiến trúc, công trình, tài sản có thể tháo gỡ, di chuyển đến chỗ mới để lắp đặt lại thì chỉ hỗ trợ chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt. Mức hỗ trợ tối đa không quá 20% so với giá trị mới (cùng loại) đối với vật tư của phần kết cấu tháo gỡ thu hồi được ; những vật tư không thể tháo gỡ di chuyển được thì bồi thường theo giá trị hiện có.

5. Đối với cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải di chuyển cơ sở đến địa điểm mới thì được trợ cấp toàn bộ chi phí di chuyển. Mức chi phí di chuyển do đơn vị lập dự toán theo giá trị thị trường hợp lý tại địa phương được cơ quan chức năng thẩm định trình Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt.

6. Đối với nhà, công trình bị giải tỏa phải phá dỡ một phần nhưng phần diện tích nhà, công trình còn lại không còn sử dụng được hoặc khi xây dựng lại nhà mới phải phá dỡ như cầu thang, các công trình phụ... thì Hội đồng giải phóng mặt bằng đề xuất Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng quyết định bồi thường thiệt hại cho phần công trình bị ảnh hưởng đó.