Điều 8. Thời điểm bàn giao đất đã bị thu hồi, cưỡng chế thu hồi đất
1. Khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, người có đất bị thu hồi có trách nhiệm nộp bản gốc các giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có) cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để chuyển cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường làm thủ tục thu hồi, chỉnh lý hoặc cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất không bị thu hồi. Việc thu bản gốc các giấy tờ trên phải lập thành văn bản giao cho người nộp.
2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
3. Trường hợp người có đất bị thu hồi không thực hiện bàn giao đất, không chấp hành quyết định thu hồi đất thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Trình tự, thủ tục cưỡng chế theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ.
4. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường hỗ trợ và tái định cư phối hợp với phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện bàn giao đất cho Chủ đầu tư theo quy định.