Điều 4. Chính sách trợ giá giống.
Hàng năm thực hiện trợ giá giống cho hộ sản xuất lương thực như sau:
1. Đối với sản xuất lúa lai, ngô lai vụ Xuân và vụ Thu mùa:
- Trợ giá 80% giá giống cho huyện Kỳ Sơn, Tương Dương và các xã biên giới vùng cao thuộc huyện Quế Phong (Tri Lễ, Nậm Nhoóng, Nậm Giải, Hạnh dịch, Đồng Văn, Thông Thụ) và huyện Con Cuông (Châu Khê, Môn Sơn).
- Trợ giá 50% giá giống đối với các xã, bản miền núi thuộc khu vực III và các xã khu vực II thuộc chương trình 135.
- Trợ giá 20% giá giống đối với các xã, bản miền núi thuộc khu vực II còn lại.
2. Đối với sản xuất ngô lai vụ Đông:
- Trợ giá giống ngô lai:
+ Trợ giá 80% giá giống cho miền núi khu vực III và các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135.
+ Trợ giá 50% giá giống đối với các xã, bản miền núi thuộc khu vực II còn lại.
+ Trợ giá 30% giá giống đối với các xã, bản miền núi thuộc khu vực I.
+ Trợ giá 20% giá giống đối với các xã đồng bằng.
- Chính sách khen thưởng: Các huyện thành phố, thị xã có sản lượng ngô vụ Đông năm sau tăng so với vụ Đông năm trước trên 500 tấn thì được xét thưởng 10 triệu đồng và cứ vượt thêm 150 tấn được thưởng 1 triệu đồng.
3. Đối với sản xuất giống lúa mới bằng giống chất lượng cao (CLC): Thực hiện trợ giá 30% giá giống lúa mới chất lượng cao cho hộ gia đình thuộc các huyện Đô Lương, Diễn Châu và Yên Thành.
4. Đối với sản xuất sắn giống mới năng suất cao: Thực hiện trợ giá 50% giá giống sắn mới năng suất cao cho lượng giống nhân kỳ 1 (diện tích nhân giống kỳ I phải được phê duyệt của Sở Nông nghiệp & PTNN) để xây dựng vùng nguyên liệu Nhà máy Chế biến bột sắn Thanh Chương, Nam Đàn, Yên Thành, Đô Lương và Nghi Lộc.
5. Kinh phí thực hiện từ ngân sách tỉnh và các nguồn Trung ương cấp cho tỉnh về trợ giá giống cây trồng.