vanban.org

Điều 14. Đối tượng, điều kiện, thời điểm thuyên chuyển — Quyết định 115/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/08/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Đà Nẵng Ban hành 21/07/2026 Hiệu lực 01/08/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 115/2026/QĐ-UBND › Chương III › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Đối tượng, điều kiện, thời điểm thuyên chuyển

1. Đối tượng thuyên chuyển

Nhà giáo, nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục trong các cơ sở giáo dục công lập có nguyện vọng thuyên chuyển.

2. Điều kiện thuyên chuyển

a) Việc thuyên chuyển nhà giáo, nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục trong các cơ sở giáo dục thực hiện theo quy định của Luật Nhà giáo, Luật Viên chức;

b) Nhà giáo được tuyển dụng theo chính sách thu hút, trọng dụng đến làm việc tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian công tác tối thiểu để được xét thuyên chuyển là đủ 60 tháng kể từ ngày được tuyển dụng; được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian công tác, không bị xử lý kỷ luật và có đơn đề nghị thuyên chuyển công tác thì được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trường hợp thuyên chuyển giữa hai đơn vị cùng thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì không phải áp dụng điều kiện về thời gian công tác nêu trên;

c) Nhà giáo được tuyển dụng thuộc diện nguồn nhân lực chất lượng cao theo quy định tại Nghị định số 179/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ quy định chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, nếu có nguyện vọng chuyển

đến cơ sở giáo dục, cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác thì thời gian công tác tại cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân thành phố tối thiểu để được xem xét thuyên chuyển là đủ 120 tháng kể từ ngày được tuyển dụng;

d) Nhà giáo không thuộc đối tượng tại điểm b và điểm c khoản này thì thời gian công tác tối thiểu để được xem xét thuyên chuyển là đủ 36 tháng kể từ ngày được tuyển dụng nhà giáo. Trường hợp tự nguyện thuyên chuyển công tác đến cơ sở giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì không phải áp dụng mốc thời gian này.

3. Các trường hợp không thực hiện thuyên chuyển nhà giáo thực hiện theo khoản 2 Điều 19 Luật Nhà giáo và các quy định pháp luật có liên quan.

4. Nhà giáo đang trong thời gian thực hiện điều động đến đơn vị cần tăng cường không được thuyên chuyển sang đơn vị khác, trừ trường hợp thuyên chuyển ra ngoài địa bàn thành phố hoặc phát sinh các trường hợp đặc biệt theo quy định tại khoản 2, Điều 9 của Quy chế này hoặc các trường hợp đặc biệt khác do cơ quan có thẩm quyền điều động xem xét, quyết định.

5. Việc thuyên chuyển nhà giáo không được thực hiện trong thời gian từ ngày ban hành kế hoạch điều động đến khi hoàn thành việc bố trí nhà giáo theo kế hoạch điều động hằng năm và phải bảo đảm cơ cấu nhà giáo của đơn vị nơi nhà giáo chuyển đi và đơn vị nơi nhà giáo chuyển đến. Trường hợp thuyên chuyển ra ngoài địa phương hoặc chuyển sang cơ quan, đơn vị không phải là cơ sở giáo dục thì không áp dụng mốc thời gian này.

6. Sở Giáo dục và Đào tạo căn cứ quy định tại Điều này, thông báo thời gian thực hiện thuyên chuyển nhà giáo hằng năm trên cơ sở đã hoàn thành điều động nhà giáo.