Điều 5. Thời hạn giải quyết hồ sơ
1. Thời hạn giải quyết hồ sơ được tính kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đến khi có kết quả giải quyết. Thời hạn giải quyết hồ sơ không tính thời gian các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật; không tính thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính (gọi tắt là NVTC) của người sử dụng đất; không tính thời gian xem xét xử lý đối với trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật, thời gian trưng cầu giám định không tính thời gian tiếp nhận hồ sơ tại xã (đối với trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu nộp hồ sơ tại UBND xã thì việc luân chuyển hồ sơ được thực hiện không quá 03 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ).
Thời gian Văn phòng Đăng ký đất đai (Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai), Phòng Tài nguyên và Môi trường gửi văn bản đề nghị xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đến UBND cấp xã không quá 02 ngày.
2. Thời hạn giải quyết đối với từng thủ tục hành chính được quy định cụ thể tại Quy định này. Trường hợp thực hiện đồng thời nhiều thủ tục hành chính về đất đai thì thời gian thực hiện là tổng thời gian thực hiện các thủ tục đó.
3. Trường hợp hồ sơ phải thực hiện NVTC trong quá trình giải quyết hồ sơ thì ngày hẹn trả kết quả lần thứ nhất là ngày có Thông báo NVTC cho người sử dụng đất (qua tin nhắn SMS). Khi người sử dụng đất nộp kết quả hoàn thành NVTC hoặc nhận được chứng từ hoàn thành NVTC từ các ngân hàng thì nơi nhận sẽ hẹn ngày trả kết quả lần thứ hai. Trường hợp loại thủ tục trong quá trình giải quyết mà cần người sử dụng đất đến cơ quan, nơi tiếp nhận sẽ có ghi cụ thể ngày hẹn vào biên nhận hồ sơ. Tổng thời gian các lần hẹn không quá thời hạn giải quyết hồ sơ xác định tại khoản 2 Điều này.
4. Đối với thủ tục miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với dự án nhà ở xã hội, dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa; thủ tục xác định tiền sử dụng đất phải nộp khi người mua, thuê nhà ở xã hội thực hiện bán, chuyển nhượng; thủ tục miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước thì thời hạn giải quyết hồ sơ tại cơ quan thuế từ 20 đến 30 ngày theo quy định tại khoản 6 Điều 2 và khoản 8 Điều 2 và khoản 7 Điều 3 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.