vanban.org

Điều 13. Trách nhiệm của Công an tỉnh và Công an cấp huyện — Quyết định 11 /2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 17/01/2026
Bà Rịa - Vũng Tàu Ban hành 28/06/2021 Hiệu lực 12/07/2021 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 11 /2021/QĐ-UBND › Chương II › Mục 2 › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Trách nhiệm của Công an tỉnh và Công an cấp huyện

1. Giám thị trại tạm giam, Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp cho Sở Tư pháp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận đặc xá, đại xá đối với cá nhân có hộ khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận.

2. Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp cho Sở Tư pháp văn bản thông báo về việc thi hành án phạt trục xuất trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày thi hành xong án phạt trục xuất.

3. Công an cấp huyện (Bộ phận thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp) có trách nhiệm cung cấp cho Sở Tư pháp trong thời hạn 10 ngày làm việc đối với các thông tin sau đây:

a) Giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo, án phạt cải tạo không giam giữ, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 62, khoản 3 Điều 73 Luật Thi hành án hình sự;

b) Giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt cấm cư trú, án phạt quản chế, án phạt tước một số quyền công dân, án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 82, khoản 3 Điều 89, khoản 5 Điều 103 và khoản 5 Điều 107 Luật Thi hành án hình sự.