Điều 5. Chế độ giải quyết công việc của Ủy ban nhân dân tỉnh.
1. Uỷ ban nhân dân tỉnh thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề sau đây:
a) Chương trình làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách, quyết định ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của tỉnh; chính sách thu hút nhân tài; phụ cấp cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
c) Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm của tỉnh và kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp bách của tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.
d) Các chương trình hành động, các biện pháp thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh uỷ, chương trình công tác của Chính phủ và nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh. Thông qua báo cáo, đề án của Ủy ban nhân dân tỉnh trước khi trình Hội đồng nhân dân tỉnh.
đ) Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh; đề án cải cách hành chính và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính trong phạm vi tỉnh.
e) Các văn bản quy phạm pháp luật và những vấn đề khác mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Các quyết định tập thể của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định tại khoản 1 điều 5 phải được trên 50% tổng số thành viên Ủy ban nhân dân tham gia biểu quyết tán thành. Đối với một số vấn đề phải quyết định tập thể nhưng không nhất thiết phải thảo luận tập thể hoặc vấn đề mang tính cấp bách cần quyết định ngay thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cơ quan chủ trì đề xuất phương án giải quyết vấn đề đó (gọi tắt là đề án); gửi toàn bộ hồ sơ đề án và phiếu lấy ý kiến đến từng thành viên Uỷ ban; nếu trên 50% số thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh tán thành thì Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trong phiên họp gần nhất.