Điều 24. Danh mục dữ liệu có giá trị khai thác
1. Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành danh mục dữ liệu có giá trị khai thác phục vụ phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học và quản trị đô thị.
2. Danh mục dữ liệu có giá trị khai thác bao gồm:
a) Dữ liệu giao thông, vận tải;
b) Dữ liệu quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, hạ tầng kỹ thuật đô thị;
c) Dữ liệu đất đai, nhà ở, bất động sản theo phạm vi được phép khai thác;
d) Dữ liệu tài nguyên, môi trường, khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai; đ) Dữ liệu du lịch, văn hóa, thể thao, sự kiện;
e) Dữ liệu thương mại, dịch vụ, logistics, thị trường;
g) Dữ liệu năng lượng, chiếu sáng, cấp nước, thoát nước và các dịch vụ hạ tầng đô thị;
h) Dữ liệu doanh nghiệp, đầu tư, công nghiệp, sản xuất, chuỗi cung ứng;
i) Dữ liệu nông nghiệp, tài nguyên nước, thủy lợi;
k) Dữ liệu y tế, giáo dục, lao động, an sinh xã hội ở dạng tổng hợp, thống kê, ẩn danh hóa hoặc hình thức khác đáp ứng điều kiện khai thác theo quy định của pháp luật;
l) Dữ liệu tài chính, ngân sách, giá cả, mua sắm công, đầu tư công theo phạm vi được phép công khai, chia sẻ, khai thác;
m) Dữ liệu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng;
n) Dữ liệu phản ánh, kiến nghị, mức độ hài lòng, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp;
o) Dữ liệu không gian địa lý, bản đồ số, viễn thám và dữ liệu phục vụ bản sao số đô thị;
p) Các loại dữ liệu khác theo quyết định của UBND Thành phố, phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Việc đưa dữ liệu vào danh mục dữ liệu có giá trị khai thác phải căn cứ vào kết quả phân loại dữ liệu, mục đích khai thác, phạm vi chia sẻ, khả năng kiểm soát
rủi ro và quy định của pháp luật. Các loại dữ liệu không được khai thác, chia sẻ, thương mại hóa thực hiện theo giới hạn quy định tại khoản 6 Điều 4 Quyết định này.