vanban.org

Điều 13. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu trong quản lý nhà nước — Quyết định 103/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 03/08/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
UBND Thành phố Hà Nội Ban hành 23/07/2026 Hiệu lực 03/08/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 103/2026/QĐ-UBND › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu trong quản lý nhà nước

1. Cơ quan nhà nước Thành phố được khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ phân tích dữ liệu trong quản lý nhà nước, chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

2. Triển khai các giải pháp trí tuệ nhân tạo, trợ lý ảo thông minh để tự động hóa việc tương tác, truy xuất, khai thác và phân tích chuyên sâu thông tin từ Kho dữ liệu dùng chung Thành phố và các nền tảng số của Thành phố. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức tối ưu hóa thời gian tra cứu, rà soát văn bản quản lý hành chính, tự động tổng hợp số liệu lập báo cáo quản trị và cung cấp dữ liệu đầu vào để mô hình hóa, chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ.

3. Thành phố triển khai, khai thác theo nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc giao triển khai và vận hành nền tảng trợ lý trí tuệ nhân tạo dùng chung phục vụ hoạt động quản lý nhà nước.

4. Trợ lý trí tuệ nhân tạo được sử dụng để:

a) Tra cứu văn bản quy phạm pháp luật;

b) Tổng hợp, phân tích dữ liệu;

c) Hỗ trợ xây dựng báo cáo quản trị;

d) Hỗ trợ phân tích chính sách; đ) Hỗ trợ quản lý nhiệm vụ;

e) Các hoạt động chuyên môn khác theo quy định.

5. Mọi hoạt động khai thác dữ liệu thông qua hệ thống trí tuệ nhân tạo phải được ghi nhật ký, bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát và truy vết.

6. Kết quả do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra chỉ có giá trị tham khảo, hỗ trợ ra quyết định. Trách nhiệm quyết định cuối cùng thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

7. Hệ thống trí tuệ nhân tạo phục vụ quản lý nhà nước phải bảo đảm tuân thủ Luật Trí tuệ nhân tạo.

8. Việc xây dựng, triển khai, khai thác hệ thống trí tuệ nhân tạo phải tuân thủ quy định về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan.

9. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm đánh giá rủi ro, xác định mức độ tác động của hệ thống đối với hoạt động quản lý nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, an toàn dữ liệu, an toàn thông tin mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân; thiết lập cơ chế giám sát, giải trình và kiểm soát, xử lý rủi ro trước khi đưa vào sử dụng.

10. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu UBND Thành phố ban hành hướng dẫn kỹ thuật tối thiểu đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước trong thời hạn 120 ngày kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực. Hướng dẫn phải xác định tiêu chí kiểm thử, đánh giá trước khi vận hành chính thức; yêu cầu về chất lượng dữ liệu, khả năng giải thích, kiểm chứng kết quả đầu ra; quy trình phát hiện, xử lý sai lệch thuật toán; yêu cầu ghi nhật ký, giám sát, truy vết; cơ chế tạm dừng, khắc phục hệ thống khi phát hiện rủi ro; phân loại nghiệp vụ, loại quyết định theo mức độ được trí tuệ nhân tạo hỗ trợ. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm có sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền và không được sử dụng kết quả của hệ thống trí tuệ nhân tạo làm căn cứ duy nhất để ban hành quyết định hành chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.