vanban.org

Điều 4. Nguyên tắc thi đua, khen thưởng — Quyết định 09/2020/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 27/05/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 27/05/2024 Thay thế: 32/2024/QĐ-UBND · 16/05/2024
Hà Nội Ban hành 28/04/2020 Hiệu lực 08/05/2020 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời quyết định · 9 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 08/2026/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 08/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 32/2024/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 32/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 09/2020/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 09/2020/QĐ-UBND
27/05/202432/2024/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 08/05/2020Bản gốcThay thế
Quyết định số 16/2017/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 16/2017/QĐ-UBND
Quyết định số 99/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 54/2011/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của Ủy ban nhân dân Thành phố về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 99/2014/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 09/2020/QĐ-UBND › Chương I › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Nguyên tắc thi đua, khen thưởng

1. Nguyên tắc thi đua:

Thực hiện theo Điều 6 Luật thi đua, khen thưởng và theo nguyên tắc sau: Việc tổ chức phong trào thi đua thường xuyên hoặc theo đợt, chuyên đề phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể; có tổ chức phát động thi đua, đăng ký tham gia thi đua, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua. Chú trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng, tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua.

2. Nguyên tắc khen thưởng:

Được thực hiện theo quy định tại Điều 6, Luật thi đua, khen thưởng; Điều 3, Nghị định 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ; Điều 2 Thông tư 12/2019/TT-BNV ngày 04 tháng 11 năm 2019 của Bộ Nội vụ và theo các nguyên tắc sau:

a) Không khen trùng (không lấy một thành tích để làm hồ sơ đề nghị một cấp có thẩm quyền xét khen thưởng nhiều lần; với một thành tích, một đối tượng chỉ được một đơn vị đề nghị khen thưởng). Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân là người lao động trực tiếp, cá nhân có nhiều sáng kiến trong lao động, công tác.

b) Khi đề nghị khen thưởng bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố về thành tích công tác năm đối với:

Lãnh đạo thuộc diện Thành phố quản lý phải căn cứ vào thành tích tập thể và theo tỷ lệ (đối với đơn vị được tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố: Đề nghị khen thưởng với số lượng không quá 30% trên tổng số lãnh đạo thuộc đơn vị; đơn vị được tặng thưởng Cờ đơn vị thi đua xuất sắc của thành phố: Đề nghị khen thưởng với số lượng không quá 50% trên tổng số lãnh đạo đơn vị; đơn vị được tặng Cờ thi đua của Chính phủ: đề nghị khen thưởng 100% lãnh đạo thuộc đơn vị).

Người đứng đầu các phòng, ban, đơn vị thuộc sở, ban, ngành, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể Thành phố, các quận, huyện, thị xã: Phải đạt tiêu chuẩn khen thưởng về cá nhân theo quy định và thành tích của tập thể do người đứng đầu đó lãnh đạo phải được Chủ tịch Ủy ban nhân Thành phố tặng Cờ đơn vị thi đua xuất sắc dẫn đầu, Bằng khen hoặc công nhận danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”.

c) Chuyên đề thi đua do cấp, đơn vị nào phát động thì cấp, đơn vị đó xét khen thưởng. Trường hợp tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, phạm vi ảnh hưởng lớn đối với thành phố thì cấp, đơn vị đó trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét khen thưởng. Không khen thưởng các chuyên đề công tác khi không đăng ký với Ủy ban nhân dân thành phố (qua Ban Thi đua - Khen thưởng); không có văn bản chỉ đạo, kế hoạch sơ, tổng kết của đơn vị chủ trì, phát động; chuyên đề được phát động không xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, chỉ tiêu thời gian thực hiện.

Trước khi xét khen thưởng cho các tập thể, cá nhân, đơn vị chủ trì thực hiện chuyên đề phải phối hợp với Ban Thi đua - Khen thưởng để được hướng dẫn về tiêu chuẩn, số lượng làm căn cứ xét chọn khen thưởng.

d) Trong một năm không đề xuất khen thưởng cấp thành phố quá 02 lần đối với tập thể và cá nhân tham gia nhiều chuyên đề thi đua do đơn vị thuộc thành phố phát động (trừ các trường hợp có thành tích đặc biệt xuất sắc). Khi đề nghị khen thưởng cấp thành phố đối với cá nhân có thành tích trong thực hiện chuyên đề của các sở, ban, ngành, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể thành phố, các quận, huyện, thị xã, đơn vị thuộc thành phố phải đảm bảo ít nhất 75% là người lao động trực tiếp.

đ) Chưa xét khen thưởng đối với tập thể đang thanh tra, kiểm tra và chưa xét khen thưởng đối với thủ trưởng trực tiếp có cấp dưới thuộc đơn vị, địa phương mình sai phạm, đang trong quá trình xem xét thi hành kỷ luật hoặc đang điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo đang được xác minh làm rõ.

e) Đối với cá nhân mà Luật thi đua, khen thưởng quy định “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”, “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” là căn cứ vào kết quả đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức hiện hành hoặc do cấp có thẩm quyền nhận xét, xác nhận. Đối với cá nhân không thuộc đối tượng áp dụng Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì thủ trưởng đơn vị thống nhất xem xét, đề nghị khen thưởng.

Đối với tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là tập thể đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” hoặc được ngành dọc cấp trên, người có thẩm quyền phụ trách đơn vị đó xác nhận.

f) Không xem xét, thẩm định đối với hồ sơ đề nghị khen thưởng quá thời hạn nộp hồ sơ theo quy định (trừ trường hợp có lý do chính đáng).

g) Chỉ lấy kết quả khen thưởng thành tích công tác năm để làm căn cứ xét đề nghị cấp trên khen thưởng. Kết quả khen thưởng phong trào thi đua theo đợt, chuyên đề, khen đột xuất, các trường hợp khen khác được ghi nhận và ưu tiên khi xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng.

Đối với Bằng khen của Ban Thường vụ Thành ủy về khen thành tích công tác năm cho tập thể, cá nhân làm chuyên trách công tác Đảng được làm căn cứ đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm.

h) Đề nghị tặng thưởng danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” cho các tập thể trực thuộc: Căn cứ tình tình thực tế hằng năm, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Thành phố ban hành hướng dẫn xét tặng đảm bảo các quy định hiện hành.

i) Đối với một đơn vị cơ sở xem xét khen thưởng khi tính tỷ lệ phần trăm nếu không được một tập thể, một cá nhân thì được tính là một tập thể, một cá nhân để xét khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng và số lẻ từ 0,5 trở lên được làm tròn là 01.

k) Đối với tập thể hoặc cá nhân là thủ trưởng đơn vị có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, hồ sơ đề nghị khen thưởng phải có văn bản xác nhận của cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền; phòng cháy chữa cháy, đảm bảo môi trường (nếu có).

l) Đối với đơn vị thuộc đối tượng kiểm toán bắt buộc theo Luật Kiểm toán độc lập, khi trình khen thưởng cấp Nhà nước phải có báo cáo kết quả kiểm toán trong thời gian xét khen thưởng.

m) Khi xét khen thưởng thành tích công tác năm đối với tập thể, trên cơ sở kết quả đạt được của tập thể, hạ một mức khen nếu đơn vị có kiểm điểm sâu của cấp ủy trong năm xét khen.

n) Trong thời gian xét khen, nếu đơn vị để xảy ra vụ việc gây ảnh hưởng dư luận xã hội không tốt đã được cơ quan có thẩm quyền xác minh là đúng thì hạ một mức khen. Việc hạ mức khen do để xảy ra vụ việc đó chỉ áp dụng hạ mức khen một lần. Các vụ việc đã được đánh giá vào kết quả của đơn vị thời gian trước thì không lấy vụ việc đó để đánh giá khen thưởng đối với đơn vị vào thời gian tiếp theo.

o) Đối với cấp phó người đứng đầu được ủy quyền phụ trách (điều hành) khi người đứng đầu bị ốm hoặc đi học từ 6 tháng trở lên trong năm thực hiện nguyên tắc khen thưởng như người đứng đầu được quy định tại Điểm b Khoản này.

p) Các trường hợp không xem xét khen thưởng khác thực hiện theo quy định của Luật thi đua, khen thưởng, các văn bản hướng dẫn thi hành.