Điều 7. Cơ chế thu hồi đất để tạo quỹ đất sạch
1. Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng theo quy định tại Điều 61, 62 Luật Đất đai năm 2013 tạo ra quỹ đất sạch để giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án, trường hợp dự án chưa triển khai thực hiện thì giao quỹ đất này cho Trung tâm Phát triển quỹ đất để quản lý, trường hợp này bổ sung vào quỹ đất công của tỉnh.
2. Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai hoặc do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, đất có nguy cơ đe dọa tính mạng con người theo quy định tại Khoản 1, Điều 64 và các Điểm a, b, c, d Khoản 1, Điều 65 Luật Đất đai năm 2013 tạo ra quỹ đất sạch được bổ sung vào quỹ đất công của tỉnh và giao quỹ đất này cho Trung tâm Phát triển quỹ đất để quản lý, đấu giá quyền sử dụng đất.
3. Trường hợp đất thu hồi theo quy định Khoản 1, Điều 64 và các Điểm a, b, c, d Khoản 1, Điều 65 Luật Đất đai năm 2013 là đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn thì giao quỹ đất này cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý. Quỹ đất này được giao hoặc cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất theo quy định của pháp luật.
4. Đối với các trường hợp Trung tâm Phát triển quỹ đất lập dự án tạo quỹ đất: Ủy ban nhân dân tỉnh giao Trung tâm Phát triển quỹ đất quản lý để giao cho nhà đầu tư hoặc tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng trên đất, tổ chức bán đấu giá để tạo nguồn thu cho ngân sách và vốn đầu tư cho những công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã giao Trung tâm Phát triển quỹ đất thực hiện theo kế hoạch phát triển quỹ đất.
5. Trung tâm Phát triển quỹ đất chịu trách nhiệm lập và thực hiện phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng phục vụ Nhà nước thu hồi đất để trực tiếp đầu tư khai thác khu đất hoặc giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân theo hình thức đấu giá quyền sử dụng đất.
6. Trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, thực hiện theo quy định hiện hành.