vanban.org

Điều 4. Nguyên tắc xét khen thưởng — Quyết định 08/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 23/01/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hà Nội Ban hành 13/01/2026 Hiệu lực 23/01/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 5 đời quyết định · 9 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 08/2026/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 08/2026/QĐ-UBND
23/01/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 32/2024/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 32/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 09/2020/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 09/2020/QĐ-UBND
Quyết định số 16/2017/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 16/2017/QĐ-UBND
Quyết định số 99/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 54/2011/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của Ủy ban nhân dân Thành phố về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội · 99/2014/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 08/2026/QĐ-UBND › Chương I › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Nguyên tắc xét khen thưởng

Thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 5, Luật Thi đua, khen thưởng; Điều 4, Nghị định số 152/2025/NĐ-CP và các nội dung cụ thể sau:

1. Nguyên tắc chung:

a) Địa phương, cơ quan, đơn vị cấp nào phát động thi đua thì địa phương, cơ quan, đơn vị cấp đó tổ chức ký kết giao ước thi đua, thực hiện, sơ kết, tổng kết đánh giá, xét tặng và trình các cấp tặng thưởng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng theo quy định.

b) Chú trọng khen thưởng gương người tốt, việc tốt, có hành động dũng cảm, cứu người, cứu tài sản, chống tiêu cực, chống tham nhũng, lãng phí; lập thành tích trong các lĩnh vực khó khăn, độc hại, nguy hiểm; tập thể nhỏ và cá nhân lao động trực tiếp, có nhiều sáng tạo, các nhân tố điển hình ở cấp cơ sở.

c) Chưa xem xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng đối với cá nhân, tập thể trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo, có vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu đang được xác minh làm rõ.

2. Nguyên tắc cụ thể:

a) Khen thưởng thành tích công trạng:

Khi xét khen thưởng thành tích công trạng đối với người đứng đầu của địa phương, cơ quan, đơn vị phải căn cứ vào tiêu chuẩn của cá nhân và thành tích của tập thể do cá nhân đó lãnh đạo. Trong giai đoạn xét khen thưởng, tập thể được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm trở lên thì người đứng đầu mới được xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

Đối với các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng có tiêu chuẩn liên quan đến kết quả đánh giá tổ chức Đảng, đoàn thể: Tập thể có tổ chức Đảng, đoàn thể sinh hoạt ghép hoặc không có tổ chức Đảng, đoàn thể, nêu rõ trong báo cáo thành tích để có cơ sở không xét đến tiêu chuẩn này. Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo lấy kết quả đánh giá tổ chức Đảng, đoàn thể của năm công tác liền kề trước năm xét khen.

b) Khen thưởng thành tích chuyên đề:

Đối với các phong trào thi đua do Trung ương phát động, việc xét, đề nghị khen thưởng cấp Thành phố, cấp Nhà nước được thực hiện theo hướng dẫn của Trung ương. Trong đó cơ quan được giao chủ trì đề nghị khen thưởng phải xây dựng hướng dẫn đối tượng, số lượng, tiêu chuẩn khen thưởng theo thẩm quyền, thống nhất với Sở Nội vụ (qua Ban Thi đua - Khen thưởng Thành phố) bằng văn bản trước khi triển khai thực hiện.

Đối với khen thưởng thành tích trong thực hiện chuyên đề thi đua, chuyên đề công tác do cơ quan, đơn vị cấp Thành phố, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức:

Địa phương, cơ quan, đơn vị xét, khen thưởng theo thẩm quyền. Trường hợp tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, phạm vi ảnh hưởng trên các lĩnh vực thuộc Thành phố, có thể xét, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, khen thưởng.

Trước khi xét, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố khen thưởng cho các tập thể, cá nhân; cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện chuyên đề xây dựng hướng dẫn về đối tượng, tiêu chí, hình thức, số lượng đề nghị khen thưởng, thống nhất với Sở Nội vụ (qua Ban Thi đua - Khen thưởng Thành phố) bằng văn bản trước khi triển khai thực hiện. Việc xét, trình các cấp khen thưởng được thực hiện trong thời hạn tối đa 03 tháng sau khi kết thúc thực hiện chuyên đề. Số lượng trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố khen thưởng tối đa 10% cho các tập thể, cá nhân tham gia thực hiện mỗi chuyên đề thi đua, chuyên đề công tác nhưng không quá 20 tập thể, 20 cá nhân.

Đối với khen thưởng thành tích trong thực hiện các chuyên đề thi đua, chuyên đề công tác do Thành phố tổ chức:

Cơ quan, đơn vị cấp Thành phố được giao chủ trì chuyên đề xây dựng hướng dẫn về đối tượng, tiêu chí, hình thức, số lượng đề nghị khen thưởng, thống nhất với Sở Nội vụ (qua Ban Thi đua - Khen thưởng Thành phố) bằng văn bản trước khi triển khai thực hiện.

Cơ quan, đơn vị thường trực thực hiện chuyên đề phải tham mưu xét, trình các cấp khen thưởng trong thời hạn tối đa không quá 03 tháng sau khi kết thúc thực hiện chuyên đề. Đối với các chuyên đề của Công an Thành phố, chỉ đề xuất khen thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích trong các vụ án có tầm ảnh hưởng và có tác dụng nêu gương học tập trong Thành phố, thời gian đề nghị khen thưởng tối đa không quá 03 tháng sau khi có kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp đặc biệt, cơ quan có thẩm quyền xét, trình khen thưởng phải nêu rõ lý do trong Tờ trình đề nghị khen thưởng.

c) Khen thưởng thành tích đột xuất:

Không khen thưởng thành tích đột xuất cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình thực hiện công việc được đảm nhận theo nhiệm vụ công tác hoặc theo chương trình, kế hoạch đã định trước.

Thời gian trình hồ sơ khen thưởng đột xuất phải kịp thời, ngay sau khi có thành tích đột xuất (tối đa không quá 01 tháng kể từ thời điểm lập thành tích) để bảo đảm tính chất của khen đột xuất; không lấy thành tích theo đợt trong phát động thi đua của đơn vị để khen thưởng và đề nghị các cấp khen thưởng thành tích đột xuất. Đối với các chuyên án của Công an Thành phố, chỉ thực hiện việc khen thưởng và đề nghị các cấp khen thưởng trong trường hợp tập thể, cá nhân lập được thành tích đột xuất hoặc có thành tích xuất sắc trong chỉ đạo, thực hiện các chuyên án, có tầm ảnh hưởng và có tác dụng nêu gương học tập trong Thành phố.

Cá nhân lập thành tích đột xuất khi đạt thành tích cao trong các cuộc thi, kỳ thi trong nước, quốc tế và giáo viên, huấn luyện viên, chuyên gia có thành tích trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cá nhân đạt giải cấp quốc gia, khu vực, quốc tế, Thành phố đã được thưởng tiền theo quy định của Nghị quyết Hội đồng nhân dân Thành phố thì được tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố và tiền thưởng ở mức độ đột xuất.

d) Khen thưởng thành tích công trạng, thành tích theo chuyên đề đối với doanh nghiệp, cá nhân là người đứng đầu doanh nghiệp:

Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác mới thành lập phải có thời gian hoạt động từ đủ 01 năm trở lên mới bình xét danh hiệu thi đua và khen thưởng (trừ khen thưởng thành tích đột xuất, khen thưởng thành tích chuyên đề).

Không xem xét khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác; cá nhân người đứng đầu doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác và các đơn vị sự nghiệp có thu khi đơn vị có vi phạm quy định về thuế, bảo hiểm xã hội, môi trường, vệ sinh, an toàn lao động, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy trong thời gian tính thành tích khen thưởng của tập thể, cá nhân (trừ trường hợp đã khắc phục xong vi phạm).

Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, đơn vị sự nghiệp có thu được phép sử dụng để phục vụ xét khen thưởng: tối đa không quá 03 tháng tính từ thời điểm ban hành văn bản đến thời điểm đề nghị khen thưởng.