Điều 17. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Giá trị xây dựng mới của nhà, công trình được tính theo diện tích xây dựng của nhà, công trình nhân (x) với đơn giá xây dựng của nhà, công trình do UBND tỉnh ban hành đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm bồi thường.
Nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình bao gồm: nhà ở, nhà phụ, nhà bếp, các lán, chái che phục vụ sinh hoạt, nhà kho để dụng cụ sản xuất, ga ra xe và các công trình nằm trong khuôn viên nhà ở phục vụ cho ở và sinh hoạt của hộ gia đình.
2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này được tính bồi thường theo mức như sau:
| Mức bồi | Một khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần | |
| thường nhà, | = Giá trị hiện có của nhà, | trăm (%) theo giá trị hiện có của nhà, |
| công trình bị thiệt hại + | ||
| công trình | công trình | |
| Trong đó: |
+ Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân (x) với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành;
+ Một khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường đánh giá thực tế khi kiểm kê của từng nhà, công trình và lập phương án trình Hội đồng thẩm định xem xét nhưng mức bồi thường tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại;
3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà diện tích còn lại không sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần nhưng phần còn lại vẫn tồn tại và sử dụng được thì được bồi thường giá trị phần bị thiệt hại và chi phí cải tạo sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn, kỷ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.
Trong đó: Bồi thường giá trị phần bị thiệt hại được tính toàn bộ diện tích phần cắt xét đến điểm chịu lực gần nhất.
- Chi phí cải tạo, sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại được tính như sau:
+ Diện tích để tính hỗ trợ cải tạo, cắt xén: Tính theo diện tich mặt đứng của nhà, công trình bị cắt xén;
+ Đơn giá để tính chi phí cải tạo, sửa chữa:
- Dạng nhà loại A, biệt thự: 2.000.000 đồng/m2;
- Dạng nhà loại B: 1.500.000 đồng/m2;
- Dạng nhà loại C1.C2,C3: 1.200.000 đồng/m2;
- Dạng nhà loại D1,D2: 800.000 đồng/m2;
- Các loại nhà còn lại: 600.000 đồng/m2;
- Trường hợp mặt tiền công trình phức tạp, có giá trị cao hơn thì căn cứ thực tế, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường tính toán cụ thể và đề xuất phương án.
4. Đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đang sử dụng thì mức bồi tính thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với công trình cũ. Nếu công trình không còn sử dụng được hoặc thực tế không sử dụng thì không được bồi thường.
Trong trường hợp công trình hạ tầng thuộc dự án phải di chuyển mà chưa được xếp loại vào cấp tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc sẽ nâng cấp tiêu chuẩn kỹ thuật thì Hội đồng thẩm định thống nhất với chủ đầu tư dự án để xác định cấp tiêu chuẩn kỹ thuật để bồi thường theo quy định.
5. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy định sau thì không được bồi thường:
5.1. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất.
5.2. Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau:
- Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mà người sử dụng đất do do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm.
5.3. Cá nhân sử dụng đất bị chết mà không có người thừa kế.
5.4. Đất được nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi đã hết thời hạn.
6. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp sau:
6.1. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất.
6.2. Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả.
6.3. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền.
6.4. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.
6.5. Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
6.6. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng liên tục trong 12 tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng liên tục trong 18 tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời gian 24 tháng liền.
6.7. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép, thì được xử lý như sau:
a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với các ngành liên quan xác định giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất đối với trường hợp tiền sử dụng, tiền thuê đất, tiền đầu tư trên đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; phần giá trị còn lại đó thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất. Trừ trường hợp người sử dụng đất có cam kết thực hiện dự án đầu tư nếu sau 12 tháng kể từ ngày được giao đất thực địa mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích được giao thì Nhà nước sẽ thu hồi đất theo quy định của pháp luật và không được bồi thường những chi phí mà người sử dụng đất đã bỏ ra khi tổ chức triển khai dự án.
Trường hợp đất do Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, do Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm, do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc do Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc do Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì chỉ có phần giá trị còn lại đã đầu tư trên đất mà không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất.
b) Phần giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất được giải quyết theo quy định sau:
b1) Trường hợp đất bị thu hồi thuộc khu vực đô thị hoặc khu vực quy hoạch phát triển đô thị mà giao cho tổ chức phát triển quỹ đất thì tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm trả cho người bị thu hồi đất; nếu đất đó chưa giao cho tổ chức phát triển quỹ đất thì do ngân sách của cấp quản lý đất sau khi thu hồi trả cho người bị thu hồi đất;
b2) Trường hợp đất bị thu hồi thuộc khu vực nông thôn mà giao cho UBND xã, phường, thị trấn để quản lý hoặc để bổ sung vào quỹ đất công ích thì UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm trả cho người bị thu hồi đất;
b3) Trường hợp đất bị thu hồi được Nhà nước giao cho người khác hoặc cho người khác thuê thì người được giao đất, thuê đất có trách nhiệm trả cho người bị thu hồi đất.
c) Trường hợp đất bị thu hồi thuộc nhóm đất phi nông nghiệp được tham gia thị trường bất động sản thì UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất được áp dụng hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản đầu tư trên đất và giải quyết phần giá trị còn lại của tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất theo quy định sau:
c1) Nếu số tiền thu được do đấu giá sau khi trừ chi phí hợp lý cho việc tổ chức đấu giá mà thấp hơn phần giá trị còn lại thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất thì người bị thu hồi đất được nhận lại toàn bộ số tiền đó.
c2) Nếu số tiền thu được do đấu giá sau khi trừ chi phí tổ chức việc đấu giá mà cao hơn hoặc bằng phần giá trị còn lại thuộc sở hữu của người bị thu hồi đất thì người bị thu hồi đất được nhận phần giá trị còn lại thuộc sở hữu của mình; phần chênh lệch được nộp vào ngân sách nhà nước.
d) Trường hợp thu hồi đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì tiền nhận chuyển nhượng, giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên đất được giải quyết như đối với trường hợp thu hồi đất do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất quy định tại các Tiết a, b và c, Khoản 6 Điều này.