vanban.org

Điều 11. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở — Quyết định 06/2013/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Quảng Trị Ban hành 05/02/2013 Hiệu lực 15/02/2013 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời quyết định · 11 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 26/2021/QĐ-UBND Ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Trị · 26/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 31/2017/QĐ-UBND ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Trị · 31/2017/QĐ-UBND
Quyết định số 38/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Trị · 38/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 06/2013/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Trị · 06/2013/QĐ-UBND
Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung bản Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. · 02/2010/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 06/2013/QĐ-UBND › Chương II › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở

1. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng đất hoặc nhà tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế ở địa phương. Trường hợp không thể có quỹ đất hoặc nhà tái định cư thì được bồi thường bằng tiền.

2. Trường hợp bồi thường bằng đất thì diện tích đất bồi thường tại nơi mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất theo quyết định của UBND tỉnh quy định về hạn mức giao đất ở đang có hiệu lực tại thời điểm được giao đất; Trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở nơi mới thì tùy theo quỹ đất hiện có, số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất, sau khi có đơn đề nghị của người bị thu hồi đất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét để giao thêm diện tích đất nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.

3. Diện tích được tính bồi thường cụ thể như sau:

3.1. Những trường hợp thu hồi toàn bộ thửa đất

a) Trường hợp có giấy tờ tại Khoản 1, Điều 5 Quy định này trước ngày 16 tháng 11 năm 2004 (ngày Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành) thì diện tích đất ở được xác định lại theo Mục c, Khoản 1, Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ và người bị thu hồi đất được bồi thường theo giá đất ở đối với diện tích đất ở đã được xác định lại như sau:

Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4, Điều 87 của Luật Đất đai, Khoản 2 và 3, Điều 80 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ; hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận QSDĐ.

b) Trường hợp có giấy tờ tại Khoản 2, Điều 5 Quy định này trước ngày 16 tháng 11 năm 2004 (ngày Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành) thì diện tích đất ở được xác định lại như có giấy tờ tại Khoản 1, Điều 5 Quy định này.

c) Đối với đất ở có vườn, ao cùng một thửa đất có nhà ở của hộ gia đình, cá nhân nếu đủ điều kiện bồi thường về đất như quy định tại Khoản 3, 4 và 7, Điều 5 Quy định này thì thực hiện việc bồi thường như sau:

- Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất từ trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 nếu trong hồ sơ địa chính hoặc các giấy tờ về QSDĐ có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đất đó được xác định là đất ở theo quy định tại Khoản 2, Điều 87của Luật Đất đai; nếu trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về QSDĐ không ghi rõ ranh giới thì diện tích đất ở được xác định tối đa không quá 05 lần hạn mức đất ở theo quy định của UBND tỉnh cho khu vực đó nhưng tổng diện tích bồi thường không vượt quá tổng diện tích đất hộ gia đình, cá nhân đó đang sử dụng; phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định thửa đất ở thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất;

- Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực) mà trên giấy tờ có ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó. Trường hợp trên giấy tờ không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo thực tế hộ gia đình đang sử dụng, nhưng tối đa không vượt quá 01 lần hạn mức quy định của UBND tỉnh cho khu vực đó.

d) Những trường hợp có giấy tờ về đất như quy định tại Khoản 6, 8, 9, 10 và 13, Điều 5 Quy định này thì diện tích đất ở được bồi thường được xác định theo thực tế hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng, nhưng tối đa không vượt quá 01 lần hạn mức quy định của UBND tỉnh cho khu vực đó.

Sau khi bồi thường diện tích đất ở như quy định trên, phần diện tích đất còn lại trên cùng thửa đất có nhà ở được bồi thường, hỗ trợ đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư theo Khoản 1, Điều 27 Quy định này.

3.2. Những trường hợp chỉ thu hồi một phần diện tích đất của thửa đất thì diện tích đất tính bồi thường (trong phần diện tích thu hồi) được xác định như sau:

Về nguyên tắc thu hồi đất gì thì bồi thường theo giá đất có cùng mục đích sử dụng. Nếu trên giấy tờ liên quan về đất không ghi rõ ranh giới từng loại đất đang sử dụng thì việc xác định loại đất để tính bồi thường như sau:

Diện tích Diện tích bị thu hồiDiện tích đất ở xác định như
đất ở = Tổng diện tích đất thực tế sử dụngxKhoản 3.1, Điều 11 Quy định
này

Diện tích đất còn lại được bồi thường, hỗ trợ theo loại đất như quy định tại Khoản 1, Điều 27 Quy định này.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm xác định diện tích đất ở tại Điều 11 bản Quy định này và công khai trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.