vanban.org

Điều 14. Nguyên tắc cụ thể trong việc thực hiện các khoản viện trợ PCPNN — Quyết định 06/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/04/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 19/04/2023 Thay thế: 06/2023/QĐ-UBND · 06/04/2023
Vĩnh Long Ban hành 16/05/2011 Hiệu lực 26/05/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 26 năm
Quyết định số 06/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long · 06/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 06/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long · 06/2011/QĐ-UBND
19/04/202306/2023/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 26/05/2011Bản gốcThay thế
Quyết định số 1250/2000/QĐ-UBT Về việc ban hành Quy chế về quản lý trong quan hệ vận động, tiếp nhận và sử dụng các nguồn viện trợ Phi Chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long · 1250/2000/QĐ-UBT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 06/2011/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Nguyên tắc cụ thể trong việc thực hiện các khoản viện trợ PCPNN

1. Các khoản viện trợ PCPNN (ngoại trừ cứu trợ khẩn cấp) chỉ được triển khai thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 12 Quy chế này phê duyệt và chủ thể có trách nhiệm thông báo chính thức cho Bên tài trợ.

2. Các khoản viện trợ PCPNN có giá trị từ 5.000 USD trở xuống, trong trường hợp Bên tài trợ đồng ý tài trợ đột xuất, Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho chủ khoản viện trợ PCPNN tiếp nhận trên cơ sở có biên bản giữa bên tài trợ và chủ khoản viện trợ PCPNN và các chứng từ có liên quan đến kế toán, thủ quỹ của chủ khoản viện trợ PCPNN. Sau đó sẽ làm thủ tục phê duyệt các khoản viện trợ PCPNN theo Điều 12 của Quy chế này.

3. Không tiếp nhận những hàng hóa (kể cả vật tư, thiết bị) thuộc danh mục các mặt hàng cấm nhập khẩu theo quy định của Chính phủ. Trong trường hợp cần thiết, thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

4. Ngoài việc thỏa thuận tiếp nhận các hàng hóa chưa sử dụng, mới 100%, cơ quan chủ quản chỉ thỏa thuận tiếp nhận những hàng hóa đã qua sử dụng, nếu có văn bản xác nhận của Bên tài trợ là hàng hóa đó còn hơn 80% so với giá trị sử dụng mới (đối với những hàng hóa đã qua sử dụng có kết cấu đơn giản) hoặc văn bản giám định hàng hóa đó còn hơn 80% so với giá trị mới của tổ chức giám định có thẩm quyền của nước bên tài trợ (đối với những hàng hóa đã qua sử dụng không thuộc Danh mục cụ thể các chủng loại hàng hóa, trang thiết bị có kết cấu đơn giản đã qua sử dụng). Cơ quan chủ quản chỉ thông báo cho Bên tài trợ gửi hàng khi được cấp có thẩm quyền của Việt Nam phê duyệt việc tiếp nhận.

Bên tài trợ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về chất lượng hàng hóa do mình xác nhận cho tới khi hàng hóa được tiếp nhận.

Những lô hàng viện trợ không thực hiện đúng các quy định nêu trên khi nhập khẩu vào Việt Nam, được giao cơ quan chức năng xử lý theo quy định, chủ khoản viện trợ chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý này.

5. Sau 6 tháng kể từ ngày chương trình, dự án được phê duyệt, nếu chương trình, dự án vẫn chưa triển khai được hoạt động nào mà không có lý do chính đáng, cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 12 Quy chế này quyết định thu hồi quyết định phê duyệt chương trình, dự án đã ban hành. Ủy ban nhân dân tỉnh thông báo cho Bên tài trợ về việc thu hồi quyết định phê duyệt chương trình, dự án.