Điều 19. Quy trình ra đề thi
1. Biên soạn và giới thiệu đề thi
a) Tùy theo tình hình cụ thể của từng trường, đối với mỗi môn thi, Trưởng ban Đề thi chỉ định một số giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao và có trình độ chuyên môn giỏi tham gia giới thiệu đề thi;
b) Việc biên soạn đề thi phải căn cứ vào yêu cầu về nội dung đề thi tuyển sinh, đối tượng, trình độ thí sinh dự thi, những yêu cầu cụ thể khác của Trưởng ban Đề thi để biên soạn và giới thiệu đề thi cùng đáp án và thang điểm chi tiết;
c) Trong thời hạn quy định của Trưởng ban Đề thi, người giới thiệu đề thi phải nộp bản gốc cho Trưởng ban Đề thi. Không được đánh máy, sao chép thành nhiều bản, không lưu giữ riêng và không đem nội dung đề thi đã giới thiệu để phụ đạo hoặc luyện thi.
2. Lựa chọn và hoàn chỉnh đề thi
a) Trên cơ sở những đề thi đã được giới thiệu, Trưởng môn thi có thể kiến nghị chọn nguyên hai, ba đề thi nào đó hoặc lựa chọn các câu hỏi từ những đề thi khác nhau để tổ hợp thành hai, ba đề thi mới. Sau đó, biên soạn đáp án và thang điểm chi tiết cho từng đề thi rồi trình Trưởng ban Đề thi xem xét, quyết định;
b) Trước ngày thi môn đầu tiên, tại địa điểm cách ly với môi trường bên ngoài, Trưởng ban Đề thi làm việc trực tiếp và độc lập lần lượt với từng Trưởng môn thi với sự có mặt của Ủy viên thường trực Ban Đề thi;
c) Trưởng ban Đề thi có thể thay đổi thứ tự các câu hỏi, thay câu này bằng câu khác hoặc yêu cầu Trưởng môn thi biên soạn lại. Căn cứ vào ý kiến của Trưởng ban Đề thi, Trưởng môn thi hoàn chỉnh lại các đề thi dự kiến kèm theo đáp án và thang điểm chi tiết, ký tên vào bản gốc và giao cho Trưởng ban Đề thi.
3. Lựa chọn và phản biện đề thi
a) Trưởng ban Đề thi phải tổ chức phản biện đề thi, mỗi môn thi phải có ít nhất một người phản biện đề thi;
b) Người phản biện đề thi phải độc lập và trực tiếp giải chi tiết đề thi trong một thời gian xác định. Trong quá trình giải đề thi không được trao đổi, tiếp xúc với người ra đề thi; không mang theo tài liệu, đáp án và thang điểm. Ý kiến phản biện cần tập trung vào những nội dung sau đây:
- Mức độ thỏa mãn yêu cầu về nội dung đề thi theo quy định;
- Nhận xét về đáp án, thang điểm, mức độ khó, dễ của đề và những sai sót khác;
- Những kiến nghị của người phản biện đề thi.
c) Sau khi nhận được văn bản phản biện đề thi, Trưởng môn thi phải họp với người ra đề thi, người phản biện để thống nhất ý kiến hoặc sửa đổi, bổ sung những điều cần thiết trước khi báo cáo với Trưởng ban Đề thi;
d) Sau khi hiệu đính lần cuối đề thi, đáp án, thang điểm với sự góp ý của người biên soạn và phản biện đề thi của từng môn, Trưởng môn thi ký tên vào bản gốc và giao cho Trưởng ban Đề thi;
đ) Trưởng ban Đề thi tự đánh số các đề thi và quyết định chọn một trong số đề thi dự kiến làm đề thi chính thức, các đề thi còn lại làm đề thi dự bị, đồng thời quyết định thang điểm cho từng phần của đề thi chính thức và đề thi dự bị;
e) Toàn bộ đề thi do các giáo viên giới thiệu, đề thi dự kiến do Trưởng môn thi biên soạn; đề thi chính thức, đề thi dự bị, đáp án, thang điểm và các tài liệu liên quan do chính Trưởng ban Đề thi cất giữ theo chế độ bảo mật.
4. Đánh máy, in, đóng gói, bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi
Việc đánh máy, in, đóng gói, bảo quản, phân phối, sử dụng đề thi được thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trưởng ban Đề thi
a) Đánh máy và in đề thi
- Các thành viên tham gia vào quá trình đánh máy và in đề thi không được mang theo bất kỳ phương tiện liên lạc và lưu giữ thông tin nào;
- Máy tính sử dụng để đánh máy đề thi không được nối mạng;
- Trưởng môn thi trực tiếp đánh máy hoặc trực tiếp kiểm tra đề thi sau khi người khác đánh máy. Trưởng ban Đề thi chỉ định những cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao đánh máy và in đề thi;
- Trước khi đánh máy hoặc in đề thi phải thu dọn mọi giấy tờ, tài liệu cũ; - Đề thi phải được đánh máy và in rõ ràng, chính xác, sạch, đẹp, đúng quy cách, đúng số bản ấn định, không thừa, thiếu, không dùng giấy in hỏng của đề thi khác. Các đề thi in hỏng và bản gốc đề thi phải nộp cho Trưởng ban Đề thi quản lý;
- Trưởng môn thi và Trưởng ban Đề thi nhất thiết phải kiểm tra kỹ bản đánh máy rồi cả hai người cùng ký duyệt trước khi in đề thi;
- Trong quá trình in, sao chụp đề thi, Trưởng môn thi phải kiểm tra số lượng, chất lượng bản in, loại bỏ tờ in mờ, in hỏng, xấu, bẩn, rách hay tờ trắng. Khi phải in đề thi ở cả hai mặt giấy, phải in đứng đầu đuôi và kiểm tra đề phòng in sót;
- Đánh máy hoặc in, sao chụp từng đề thi một. Chỉ được tiếp tục đánh máy hoặc in đề thi khác sau khi đã kiểm tra khu vực đánh máy, in, thu dọn và giao cho Trưởng ban Đề thi mọi giấy tờ liên quan đến đề thi vừa làm trước đó;
- Tuyệt đối không đánh máy hoặc in đáp án đề thi trước khi thi.
b) Đóng gói đề thi
- Ủy viên thường trực Ban Đề thi nắm vững số lượng thí sinh của từng khối, ngành, địa điểm thi của trường để phân phối đề thi, ghi tên địa điểm thi, phòng thi và số lượng đề thi vào từng phong bì, sau đó giao cho người phụ trách đóng gói hoặc tự mình trực tiếp cho đề thi vào từng phong bì;
- Người đóng gói đề thi phải bảo đảm đúng số lượng đề thi, đúng môn thi ghi ở phong bì đề thi, đủ số lượng đề thi cho từng điểm thi, từng phòng thi không có tờ trắng, tờ hỏng;
- Phong bì đề thi được dán kín, chặt, không bong mép, có đủ nhãn và dấu niêm phong (nửa dấu in vào nhãn, nửa dấu in vào phong bì);
- Sau khi đóng gói xong đề thi của từng môn thi, Ủy viên thường trực Ban Đề thi kiểm tra đủ số lượng phong bì đã đóng gói và bàn giao cho Trưởng ban Đề thi quản lý, kể cả các bản in thừa, in hỏng, mờ, xấu, rách, bẩn đã bị loại.
c) Bảo quản và phân phối đề thi
- Đề thi phải được bảo quản trong hòm, tủ, hay két sắt, có khóa chắc chắn, niêm phong kỹ và có người bảo vệ thường xuyên. Chìa khóa hòm, tủ hay két sắt do Trưởng ban Đề thi giữ;
- Lịch phân phối đề thi từng buổi cho các điểm thi do Trưởng ban Đề thi quy định. Khi giao nhận đề thi phải có biên bản. Khi đưa đề thi đến các điểm thi phải có công an bảo vệ.
d) Sử dụng đề thi chính thức và dự bị
- Phong bì đựng đề thi chính thức chỉ được mở để sử dụng tại phòng thi đúng ngày, giờ và môn thi do Chủ tịch HĐTS quy định thống nhất cho mỗi kỳ thi và được dùng để đối chiếu, kiểm tra đề thi đã phát cho thí sinh hoặc chép lên bảng;
- Đề thi dự bị chỉ được sử dụng trong trường hợp đề thi chính thức bị lộ, khi có đủ bằng chứng xác thực và có kết luận chính thức của HĐTS trường và cơ quan Công an địa phương theo quy định tại Điều 25 của Quy chế này.