vanban.org

Điều 9. Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu — Quyết định 04/2019/QĐ-KTNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/11/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 21/11/2023 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 12/2023/QĐ-KTNN · 21/11/2023
Kiểm toán nhà nước Ban hành 31/12/2019 Hiệu lực 14/02/2020 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 6 năm
Quyết định số 04/2019/QĐ-KTNN Ban hành Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách địa phương · 04/2019/QĐ-KTNN
21/11/202312/2023/QĐ-KTNNBãi bỏ Đang xem 14/02/2020Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 04/2019/QĐ-KTNN › Chương III › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu

Việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu theo hướng dẫn tại CMKTNN 1315  - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính. Trong đó, lưu ý các nội dung sau:

1. Để làm cơ sở thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán, KTVNN phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ BCNSĐP và cấp độ cơ sở dẫn liệu:

a) Rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ BCNSĐP là rủi ro ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể BCNSĐP và ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu (các rủi ro ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu trên báo cáo quyết toán thu NSNN, báo cáo quyết toán chi NSĐP và các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận...).

b) Khi xác định đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cơ sở dẫn liệu đối với các khoản mục, KTVNN cần đánh giá các rủi ro đã xác định có ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể BCNSĐP và ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu.

2. Khi thực hiện quy trình đánh giá rủi ro, KTVNN phải dựa vào xét đoán chuyên môn để cân nhắc rủi ro đã xác định là rủi ro đáng kể hay không đáng kể.

3. Rủi ro đáng kể thường liên quan đến các giao dịch bất thường: sự can thiệp nhiều hơn của lãnh đạo địa phương đến công tác kế toán và lập báo cáo quyết toán ngân sách và ảnh hưởng đến quyết toán thu chi của địa phương đó, những điều chỉnh trong giai đoạn chỉnh lý quyết toán, hoặc ở những thời điểm nhạy cảm như: trước hoặc sau các kỳ họp của HĐND, tiếp xúc cử tri, hoặc các kỳ đại hội của các tổ chức chính trị, đoàn thể, thay đổi nhân sự chủ chốt, đang bị cơ quan thanh tra, kiểm tra …; can thiệp thủ công nhiều hơn vào quá trình thu thập và xử lý dữ liệu; các tính toán phức tạp; tính chất của các giao dịch bất thường khiến đơn vị khó có thể thực hiện các kiểm soát một cách hiệu quả đối với những rủi ro đó; các xét đoán mang tính chủ quan hoặc phức tạp.

4. Khi xét đoán rủi ro được coi là đáng kể, KTVNN lưu ý phải xem xét những nội dung:

a) Rủi ro đó là rủi ro do gian lận: cố tình giấu nguồn thu, hạch toán không đầy đủ nguồn thu, sai tỷ lệ điều tiết các khoản mục thu giữa các cấp ngân sách, cố tình chi vượt định mức, sai đối tượng, không đúng tính chất nguồn kinh phí,...

b) Rủi ro đó có liên quan tới những thay đổi lớn: miễn giảm thuế không đúng, tính toán sai, tăng chi bất thường; chi phí phát sinh lớn; có quá nhiều văn bản điều hành thay đổi trong quá trình thực hiện nhưng các văn bản còn mâu thuẫn nhau; sự điều hành của địa phương chưa căn cứ vào các văn bản quy định của nhà nước hoặc có sự vận dụng ngoài chính sách nhà nước quy định như vận dụng ưu đãi thuế, ưu đãi đối tượng để thu hút đầu tư không phù hợp quy định, chi hỗ trợ sai đối tượng; địa phương có nhiều doanh nghiệp nước ngoài được hưởng ưu đãi đầu tư...

c) Mức độ phức tạp của các giao dịch dễ xảy ra gian lận, sai sót: do quá nhiều vấn đề phức tạp ảnh hưởng đến quyết toán ngân sách địa phương như địa bàn rộng, các khoản thu chi lớn và có sự chênh lệch nhiều giữa các đơn vị trên địa bàn...

d) Rủi ro gắn liền với các giao dịch quan trọng ảnh hưởng đến quyết toán ngân sách: các chính sách mới trong một giai đoạn phải thực hiện với kinh phí lớn; các khoản thu từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các khoản thu từ đất... không được phản ánh đầy đủ.

đ) Mức độ chủ quan trong việc định lượng thông tin tài chính, đặc biệt là yếu tố chưa chắc chắn: Do địa phương chưa ban hành định mức liên quan đến thu, chi ngân sách nên các kết quả chỉ mang tính tạm tính; cơ chế đặc thù của từng địa phương...

e) Rủi ro đó có liên quan tới những giao dịch lớn nằm ngoài phạm vi hoạt động bình thường của địa phương hoặc liên quan tới giao dịch có dấu hiệu bất thường. Cụ thể tại một số lĩnh vực trong kiểm toán NSĐP như:

- Đối với lĩnh vực thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: các đơn vị hoạt động xây lắp có hoạt động kinh doanh bất động sản, có số thuế được hoàn, được miễn giảm lớn; thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất không được theo dõi đầy đủ…

- Đối với lĩnh vực chi đầu tư XDCB: các dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần, dự toán thiết kế thay đổi nhiều, dự án kéo dài nhiều năm, chậm tiến độ, tình hình nợ đọng kéo dài; giá trị quyết toán cao hơn dự toán được duyệt; suất đầu tư cao hơn so với công trình cùng loại....

- Đối với lĩnh vực chi thường xuyên: Sử dụng và quyết toán nguồn kinh phí không đúng nội dung, dự toán được duyệt, chi vượt dự toán, không đúng nhiệm vụ và chưa phù hợp với chế độ; Công tác mua sắm tài sản, dịch vụ: có giá mua cao bất thường, không tổ chức đầu thầu…

f) Các ảnh hưởng do mô hình và cơ chế điều hành ngân sách địa phương còn có nhiều bất cập; trình độ năng lực của bộ máy lãnh đạo còn hạn chế, như:

- Đối với cơ quan quản lý thu NSNN: nhân lực làm công tác thanh tra, kiểm tra chưa đồng đều, công tác phối hợp thu thuế giữa các cơ quan thuế chưa tốt, phối hợp giữa cơ quan thuế, cơ quan Tài nguyên và Môi trường, cơ quan Tài chính trong xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa tốt…

- Đối với lĩnh vực quản lý chi đầu tư XDCB: Việc triển khai các văn bản quy phạm pháp luật chậm hoặc không triển khai; công tác phân bổ và giao vốn cho một số đơn vị chấp hành chưa đầy đủ, kịp thời về chế độ báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định; năng lực của các đơn vị tư vấn tham gia thực hiện dự án chưa cao; trùng lắp hoặc chồng chéo trong điều hành;...

g) Những tồn tại được chỉ ra từ những cuộc kiểm toán, thanh tra, kiểm tra trước đó, những sai sót có tính hệ thống chưa được khắc phục.

h) Những vấn đề nổi cộm trong quản lý ngân sách địa phương như:

- Đối với lập dự toán: Quá trình xây dựng dự toán của các địa phương còn chưa đảm bảo quy định về các yếu tố như tốc độ tăng trưởng, nhiệm vụ chi chưa căn cứ vào nguồn thu, đối với các địa phương hưởng trợ cấp từ NSTW chưa chủ động để giảm tỷ lệ hỗ trợ, lập dự toán thu NSNN chưa bao quát hết nguồn thu trên địa bàn, tính bền vững của các chỉ tiêu thu; chi tiêu công chưa được xây dựng theo hướng thay đổi cơ cấu, giảm bớt các khoản chi hành chính, tăng chi đầu tư phát triển; phân bổ vốn đầu tư còn dàn trải, dẫn đến các dự án kéo dài nhiều năm làm cho các dự án không phát huy được hiệu quả; chưa phân bổ hết dự toán cho các đơn vị làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiệm vụ....

- Đối với thực hiện dự toán: trong quá trình điều hành ngân sách, các địa phương ban hành các văn bản đặc thù hoặc cơ chế tài chính chưa rõ ràng minh bạch giữa các đơn vị cấp dưới. Hiệu quả của kiểm soát không cao, để xảy ra những tồn tại như làm giảm nguồn thu vào NSNN, tăng chi sai quy định, nhiều khoản chi đặc thù, chuyển nguồn sai quy định...

- Đối với quyết toán ngân sách: Công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán chưa hiệu quả; những điều chỉnh trong giai đoạn chỉnh lý quyết toán nhằm đạt được mục tiêu riêng của lãnh đạo quản lý của địa phương...

5. Đối với mỗi rủi ro ở cấp độ BCNSĐP và cấp độ cơ sở dẫn liệu, KTVNN cần đánh giá tác động của chúng đến các khoản mục trên BCNSĐP.

6. Trong trường hợp đơn vị sử dụng công nghệ thông tin, KTVNN phải tìm hiểu cách thức đơn vị xử lý rủi ro phát sinh từ công nghệ thông tin khi đánh giá hệ thống kiểm soát của đơn vị theo quy định tại Đoạn 40 của CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính.