vanban.org

Điều 10. Xác định trọng yếu kiểm toán — Quyết định 04/2019/QĐ-KTNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/11/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 21/11/2023 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 12/2023/QĐ-KTNN · 21/11/2023
Kiểm toán nhà nước Ban hành 31/12/2019 Hiệu lực 14/02/2020 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 6 năm
Quyết định số 04/2019/QĐ-KTNN Ban hành Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách địa phương · 04/2019/QĐ-KTNN
21/11/202312/2023/QĐ-KTNNBãi bỏ Đang xem 14/02/2020Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 04/2019/QĐ-KTNN › Chương III › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Xác định trọng yếu kiểm toán

Thực hiện theo hướng dẫn tại các đoạn từ Đoạn 21 đến Đoạn 42 CMKTNN số 1320- Xác định và vận dụng trọng yếu trong kiểm toán tài chính, trong đó cần lưu ý:

1. Xác định mức trọng yếu tổng thể BCNSĐP (Theo phụ lục số 03/HD-RRTY-NSĐP)

a) Xác định tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu tổng thể

- Việc xác định tiêu chí để xác định mức trọng yếu tổng thể đối với BCNSĐP phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN về nhu cầu thông tin của đa số người sử dụng báo cáo quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu nào.

- Đối với BCNSĐP: Thông thường, chỉ tiêu quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước và công chúng là: tổng số thu, tổng số chi của địa phương, tổng số thu ngân sách trên địa bàn, tổng chi cân đối ngân sách, vì vậy KTVNN có thể lựa chọn một hoặc một số chỉ tiêu này trong từng báo cáo làm tiêu chí ước lượng mức trọng yếu tổng thể đối với tổng thể BCNSĐP.

- Đối với Báo cáo tài chính của các đơn vị dự toán: Thông thường, chỉ tiêu quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước, công chúng là: tổng kinh phí được sử dụng trong năm, kinh phí đề nghị quyết toán trong báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động; tổng doanh thu, chi phí trong báo cáo kết quả hoạt động, vì vậy KTVNN có thể lựa chọn một hoặc một số chỉ tiêu này trong từng báo cáo làm tiêu chí ước lượng mức trọng yếu tổng thể đối với Báo cáo tài chính của các đơn vị dự toán.

- Việc xác định tiêu chí để ước tính mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN, tùy thuộc vào đặc điểm từng địa phương, thực trạng tài chính, nhu cầu của đa số người sử dụng thông tin.

Ví dụ: Đối với địa phương thường xuyên bội chi ngân sách, nguồn thu hàng năm hạn hẹp, số thu thấp, trong khi đó các khoản chi ngân sách có xu hướng tăng, lúc này mục tiêu kiểm toán quan tâm nhiều hơn đến công tác quản lý điều hành chi ngân sách thì có thể chọn tiêu chí Tổng số chi NSĐP để ước tính mức trọng yếu cho tổng thể BCNSĐP.

- Trong trường hợp chỉ kiểm toán một số khoản mục của BCNSĐP, thì khoản mục đó có thể là tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu tổng thể.

Ví dụ: Nếu chỉ thực hiện kiểm toán công tác quản lý thu NSNN trên địa bàn KTVNN có thể chọn tiêu chí Thu NSNN (trong báo cáo quyết toán thu NSNN) để xác định mức trọng yếu tổng thể.

- Việc xác định tiêu chí còn có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như: đặc điểm, tình hình kinh tế chính trị của địa phương được kiểm toán, chính sách nhà nước trong từng thời kỳ được kiểm toán.

Ví dụ: Trong giai đoạn nhà nước tiết giảm đầu tư công, đồng thời Quốc hội và công chúng đang quan tâm đến hiệu quả sử dụng các khoản chi đầu tư XDCB  tại các địa phương, KTVNN có thể lựa chọn tiêu chí để xác định mức trọng yếu có thể là chi đầu tư phát triển, tức là chỉ là một bộ phận trong tổng chi ngân sách địa phương.  Hoặc đối với những địa phương miền núi, nguồn thu hạn hẹp, cơ cấu thu ngân sách chủ yếu thu bổ sung từ ngân sách trung ương, lúc này tiêu chí được lựa chọn để xác định mức trọng yếu có thể là Chi cân đối NSĐP.

- Việc lựa chọn các tiêu chí xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP cần có sự thống nhất, đồng bộ tối đa với tất cả các đơn vị cấp dưới (ví dụ: Có thể chọn tiêu chí Tổng số chi đối với báo cáo quyết toán chi NSĐP) hoặc có thể áp dụng lựa chọn kết hợp đồng thời nhiều chỉ tiêu (ví dụ: vừa chọn chỉ tiêu Tổng số thu và chỉ tiêu Tổng số chi đối với báo cáo cân đối quyết toán NSĐP…).

b) Giá trị tiêu chí được lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP

- Giá trị tiêu chí xác định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thường dựa trên số liệu báo cáo của đơn vị. Trường hợp trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán,  địa phương chưa hoàn thành BCNSĐP thì giá trị các tiêu chí được lấy theo số tạm tính theo báo cáo của đơn vị.

- Giá trị của tiêu chí lựa chọn xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP cần được xác định dựa trên các dữ liệu tài chính phù hợp. Khi đơn vị được kiểm toán có những biến động lớn hoặc có những thay đổi quan trọng có liên quan đến môi trường hoạt động của đơn vị, KTVNN cần loại trừ các biến động bất thường để điều chỉnh tăng, giảm giá trị tiêu chí cho phù hợp.

Ví dụ: Trong niên độ ngân sách do sự thay đổi chính sách của nhà nước về Thu tiền khai thác khoáng sản (nộp 1 lần cho cả thời gian khai thác), làm tăng số thu từ các DN ngoài quốc doanh trên địa bàn 500 tỷ đồng. Khi đó KTVNN cần loại trừ số liệu này trước khi xác định mức trọng yếu tổng thể để phản ánh phù hợp mức độ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCNSĐP.

c) Lựa chọn tỷ lệ để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP

- Trên cơ sở khung xác định mức trọng yếu tổng thể quy định tại Khoản 1 Điều 6 của hướng dẫn này, KTVNN phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định tỷ lệ % áp dụng cho tiêu chí đã lựa chọn cho từng cuộc kiểm toán, phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về mức độ sai sót có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCNSĐP.

- Tùy theo từng địa phương, với cùng một tiêu chí lựa chọn nhưng tỷ lệ % tương ứng để xác định mức trọng yếu có thể khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: Quy mô ngân sách, đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị của từng địa phương được kiểm toán… (Chi tiết xem Bảng 02).

Bảng số 02: Nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn tỷ lệ xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP

STT Trị số của các tiêu chí lựa chọn
Hướng tới tỷ lệ % cao trong khung Hướng tới tỷ lệ % thấp trong khung
11 Địa phương có quy mô ngân sách nhỏ. Địa phương có quy mô ngân sách lớn
22 Các tỉnh, thành phố đồng bằng, kinh tế phát triển tương đối ổn định Các tỉnh có địa bàn rộng, phức tạp,  hoặc nhiều huyện, thị vùng sâu, miền núi khó khăn, biên giới…
33 Tình hình kinh tế chính trị ổn định, có ít tác động đến tình hình ngân sách Tình hình kinh tế chính trị biến động, có nhiều tác động đến tình hình ngân sách
  ....  

Lưu ý: Các yếu tố trên chỉ mang tính định hướng, có nhiều các nhân tố khác ảnh hưởng đến tính phù hợp của mức trọng yếu tùy từng trường hợp cụ thể của địa phương được kiểm toán.

d) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP:

Mức trọng yếu đối với tổng thể  BCNSĐP = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP X Giá trị tiêu chí lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP

Ví dụ: Số liệu BCNSĐP năm N của địa phương A cho thấy tổng số chi cân đối ngân sách là 10.000 tỷ đồng. Tỉnh A là một tỉnh quy mô ngân sách trung bình, hệ thống KSNB được xác định ở mức trung bình. Tỷ lệ xác định mức trọng yếu được lựa chọn ở mức trung bình với tỷ lệ được lựa chọn là 1% tổng chi cân đối ngân sách. KTVNN xác định mức trọng yếu tổng thể khi lập kế hoạch là 100 tỷ đồng. (Chi tiết xem Bảng 3).

Bảng 03. Xác định trọng yếu kiểm toán

Nội dung   Kế hoạch
Tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu  

Chi cân đối ngân sách

Nguồn số liệu để xác định mức trọng yếu   BCNSĐP trước kiểm toán
Lý do lựa chọn tiêu chí này   Đây là chỉ tiêu quan trọng và được nhiều cơ quan quản lý nhà nước quan tâm
Giá trị tiêu chí được lựa chọn (a) 10.000 tỷ đồng
Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu (b) 1%
Lý do lựa chọn tỷ lệ này   Địa phương có quy mô ngân sách trung bình, hệ thống KSNB ở mức trung bình
Mức trọng yếu tổng thể  (c)=(a)*(b) 100 tỷ đồng
Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu thực hiện (d) 60%
Lý do lựa chọn tỷ lệ này   Do đánh giá quyết toán chi có rủi ro trung bình nên chọn mức trung bình
Mức trọng yếu thực hiện (e)=(c)*(d) 60 tỷ đồng
Tỷ lệ xác định ngưỡng sai sót không đáng kể (f) 0,3%
Lý do lựa chọn tỷ lệ này   Việc quản lý chi NSNN được sự quan tâm của dư luận địa phương
Ngưỡng sai sót không đáng kể (g) = (c)*(f) 180 triệu đồng

2. Xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý (theo Phụ lục số 04/HD-RRTY-NSĐP).

- Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể có các khoản mục có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu tổng thể đối với BCNSĐP nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thì KTVNN phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng khoản mục này. KTVNN có thể dựa vào xét đoán chuyên môn của mình để xác định mức trọng yếu đối với từng khoản mục cần lưu ý hoặc vận dụng tỷ lệ % trong khung tỷ lệ tại chính sách xác định mức trọng yếu kiểm toán để xác định tương tự như đối với xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp thì mức trọng yếu đối với từng khoản mục cần lưu ý đều được xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP.

- Khi xác định trọng yếu đối với các từng khoản mục cần lưu ý, KTVNN cần thu thập thêm các thông tin về quan điểm và định hướng của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán trong việc lập và trình bày các từng khoản mục trong BCNSĐP.

- Đối với những từng khoản mục trọng yếu về bản chất hoặc hậu quả của sai sót tại khoản mục đó nếu xảy ra là nghiêm trọng thì mức trọng yếu được xác định ở mức thấp. Trường hợp có những khoản mục có yêu cầu chính xác cao về số liệu, mức trọng yếu đối với từng khoản mục đó có thể được xác định ở mức rất thấp (mức trọng yếu gần bằng 0), khi đó KTVNN có thể cần kiểm toán toàn bộ các giao dịch có liên quan nhằm phát hiện tất cả các sai sót có liên quan đến từng khoản mục.

Ví dụ: Khi kiểm toán NSĐP của một tỉnh mà Hội đồng nhân dân tỉnh đang quan tâm đến vấn đề chi đầu tư phát triển trên địa bàn vì có nhiều thông tin, ý kiến cho rằng thời gian qua chi đầu tư tăng cao nhưng việc phân bổ vốn đầu tư dàn trải, nhiều công trình chậm được đưa vào sử dụng nên không phát huy được hiệu quả. Khi đó chỉ tiêu chi đầu tư phát triển (xét riêng lẻ) nếu có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu tổng thể vẫn có thể ảnh hưởng đến đánh giá của người sử dụng thông tin. Vì vậy KTVNN cần phải xác định mức trọng yếu riêng áp dụng cho chỉ tiêu chi đầu tư phát triển thấp hơn mức trọng yếu tổng thể đối với BCNSĐP (chi tiết ví dụ xem Bảng 4).

Bảng 4: Xác định mức trọng yếu tổng thể, mức trọng yếu thực hiện và ngưỡng sai sót không đáng kể của khoản mục cần lưu ý

Các khoản mục cần lưu ý Giá trị khoản mục Xác định mức trọng yếu khoản mục lưu ý Xác định mức trọng yếu thực hiện của KM lưu ý Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể Mô tả cách xác định
Tỷ lệ% Mức trọng yếu Tỷ lệ  % Mức trọng yếu Tỷ lệ  % Ngưỡng sai sót không đáng kể
(1) (2) (3) (4=3x2) (5) (6=5x4) (5) (6=5x4) 7
1. Chi đầu tư phát triển 1.500 tỷ đồng 1% 15 tỷ đồng 50%

7,5

tỷ đồng

1% 150 triệu đồng Do là chỉ tiêu rất quan trọng
....                

3. Xác định các khoản mục trọng yếu

Trên cơ sở mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP và mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý, KTVNN xác định các khoản mục trọng yếu (theo Phụ lục số 05/HD-RRTY-NSĐP).

a) Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTVNN cần xác định các khoản mục trọng yếu trên BCNSĐP làm cơ sở để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quá trình thực hiện kiểm toán.

b) Việc xác định các khoản mục có là trọng yếu hay không cần xem xét cả về định lượng và định tính trong hoàn cảnh cụ thể:

- Xét về mặt định lượng: Các khoản mục trên BCNSĐP có giá trị vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP có thể xác định là trọng yếu vì có thể chứa đựng sai sót lớn hơn mức trọng yếu tổng thể.

Ví dụ: Với tiêu chí được lựa chọn khi xác định mức trọng yếu tổng thể là Chi cân đối ngân sách, tỷ lệ sử dụng để xác định mức trọng yếu là 1,5%, giá trị tiêu chí được lựa chọn 10.000 tỷ đồng, mức trọng yếu tổng thể là 150 tỷ đồng; xét về mặt định lượng các khoản mục trên BCNSĐP có giá trị lớn hơn 150 tỷ đồng có thể được xác định là trọng yếu.

- Xét về mặt định tính: Việc xác định các khoản mục trọng yếu không chỉ đơn thuần là việc xem xét về giá trị của các khoản mục trên BCNSĐP mà cần phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xem xét các yếu tố định tính trong hoàn cảnh cụ thể. Một khoản mục có giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu có thể là trọng yếu khi xem xét các yếu tố định tính nếu khoản mục là quan trọng và có khả năng chứa đựng sai sót, gian lận. Ngược lại, một khoản mục có giá trị lớn hơn mức trọng yếu có thể không xác định là trọng yếu nếu KTVNN có đủ cơ sở, bằng chứng xác định khoản mục không chứa đựng sai sót trọng yếu.

Ví dụ: Khi xem xét khoản chi hỗ trợ cho doanh nghiệp, do đây là khoản chi phải đúng đối tượng, đúng nội dung chi, vì vậy có thể các khoản chi này có giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu song vẫn tiềm ẩn những sai sót trọng yếu. Trong khi khoản chi sự nghiệp giáo dục có giá trị lớn, nhưng KTVNN có bằng chứng về hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả thì không xác định là khoản mục trọng yếu.

c) Khi xác định các khoản mục trọng yếu, KTVNN thường xem xét các chỉ tiêu trên BCNSĐP. Tuy nhiên, các thành phần chi tiết của chỉ tiêu trên BCNSĐP cũng có thể được xem xét để xác định liệu những thành phần chi tiết đó có phải là trọng yếu hay không.

Ví dụ: Khi kiểm toán thu NSĐP, KTVNN cần xem xét các chỉ tiêu trên báo cáo quyết toán thu ngân sách để xác định các khoản mục trọng yếu, các chỉ tiêu thường được xem xét như: Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh; các khoản thu từ đất (thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất...)...

d) Khi đánh giá tính trọng yếu của các khoản mục, KTVNN cần xem xét cả quy mô, bản chất cũng như nội dung của chỉ tiêu và thông tin thuyết minh trong hoàn cảnh cụ thể. Các yếu tố định lượng và định tính liên quan đến việc xác định các khoản mục trọng yếu có thể bao gồm các yếu tố sau:

- Độ lớn và thành phần chi tiết của các khoản mục, số lượng của các giao dịch, mức độ phức tạp và tính đồng nhất của các giao dịch liên quan đến khoản mục.

- Khả năng có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn của các khoản mục.

- Bản chất của các khoản mục (ví dụ: các nhóm khoản mục dễ bị tác động để làm thay đổi BCNSĐP: chi đầu tư, thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh... ).

 - Sự phức tạp trong hạch toán kế toán và lập báo cáo các khoản mục (ví dụ: các nghiệp vụ xảy ra ở cuối kỳ kế toán hoặc thuộc nghiệp vụ mới phát sinh; hoặc trong thời gian chỉnh lý quyết toán, các hoạt động đặc thù...)

- Sự tồn tại của giao dịch với các bên liên quan trong các chỉ tiêu và thông tin thuyết minh (ví dụ: xác định số thu tiền sử dụng đất có liên quan đến các Sở Tài chính, Cục thuế, Sở Tài nguyên – môi trường).

- Các khoản mục có sự biến động lớn, bất thường so với giai đoạn trước (ví dụ: khoản mục có các giao dịch mới, phức tạp hoặc mang tính chủ quan).

- Nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính, kỳ vọng và mối quan tâm của các nhà quản lý và công chúng về một vấn đề nhất định (ví dụ: những vấn đề nổi cộm được Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm).

- Yêu cầu giám sát theo quy định của pháp luật trong một lĩnh vực (ví dụ: giám sát của Quốc hội về số vay của NSĐP).

- Yêu cầu về việc công khai và minh bạch (ví dụ: yêu cầu công khai cụ thể về gian lận hoặc các thiệt hại khác).

Ví dụ: Khi xem xét, đánh giá trọng yếu kiểm toán liên quan đến lĩnh vực thu ngân sách, KTVNN cần xem xét tỷ trọng, cơ cấu các khoản thu trong Tổng thu NSNN để có đánh giá tổng thể về mặt định lượng. Bên cạnh đó KTVNN cũng cần xem xét tính chất của từng khoản thu để đánh giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên báo cáo quyết toán thu ngân sách. Chẳng hạn khoản thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm cơ cấu 30% tổng thu ngân sách; mặt khác đây là khoản thu dễ xảy ra sai sót do các doanh nghiệp cố tình không kê khai dẫn đến thất thu NSNN.

đ) Sau khi xác định ban đầu các khoản mục trọng yếu, KTVNN cần xem xét liệu các khoản mục không được xác định là trọng yếu, nếu xét tổng hợp có thể trở thành trọng yếu hay không.

Ví dụ: Sau khi xác định các khoản mục trọng yếu là thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và các khoản thu từ đất; KTVNN cần xem xét các khoản mục còn lại trên báo cáo quyết toán thu NSNN không được xác định trọng yếu, nhưng nếu xét tổng hợp có thể trở thành trọng yếu hay không.

Bảng 5: Xác định các khoản mục trọng yếu

TT Khoản mục

Giá trị

(tỷ đồng)

Khoản mục trọng yếu (Có/

Không)

Lý do
1 Thuế thu nhập cá nhân 160 Không Đây là khoản thu chiếm tỷ lệ nhỏ và thường ít sai sót
2 Phí lệ phí 40 Không Đây là khoản thu chiếm tỷ lệ nhỏ và thường ít sai sót
3 Thu từ cổ tức và lợi nhuận sau thuế 70 Có Tuy số thu ít nhưng thường xảy ra việc kê khai thiếu số phải nộp
4 Thu từ khu vực kinh tế NQD 1.500 Có Có số thu chiếm tỷ trọng lớn, thường xảy ra việc kê khai thiếu số phải nộp
  ....      

4. Xác định mức trọng yếu thực hiện

a) Xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên mức trọng yếu tổng thể BCNSĐP và tỷ lệ % tương ứng trong chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 của hướng dẫn này (khoảng từ 50-75% so với mức trọng yếu tổng thể).

b) Việc xác định mức trọng yếu thực hiện không chỉ đơn thuần là một phép tính cơ học mà yêu cầu phải có những xét đoán chuyên môn. Việc xét đoán này phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về đơn vị được kiểm toán, kết quả  đánh giá rủi ro, qui mô, bản chất của các sai sót đã phát hiện trong các cuộc kiểm toán, kiểm tra, thanh tra trước và khả năng lặp lại sai sót đó trong kỳ kiểm toán, mức độ sai sót dự kiến trong kỳ kiểm toán.

c) Việc chọn tỷ lệ áp dụng cho từng cuộc kiểm toán cụ thể tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN và phải được giải thích lý do trong kế hoạch kiểm toán. Thông qua quá trình tìm hiểu thông tin về đơn vị và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, nếu KTVNN xác định rủi ro có sai sót trọng yếu của BCNSĐP càng cao thì mức trọng yếu thực hiện càng nhỏ (tương ứng tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện trên mức trọng yếu tổng thể càng nhỏ) để phần chênh lệch giữa mức trọng yếu tổng thể và mức trọng yếu thực hiện có thể bao quát được các sai sót không phát hiện được và các sai sót không điều chỉnh.

d) Mức trọng yếu thực hiện sẽ quyết định nội dung, phạm vi kiểm toán cần phải thực hiện như: phải kiểm tra phần tử nào; số lượng mẫu chọn để kiểm toán... (Khoảng cách mẫu = Mức trọng yếu thực hiện/R và số phần tử chọn mẫu kiểm toán trong từng khoản mục = Giá trị của khoản mục phải chọn mẫu/Khoảng cách mẫu - Ví dụ tại Điểm c, Khoản 2, Điều 12).

đ) Đối với các khoản mục cần lưu ý: Mức trọng yếu thực hiện cũng cần được xác định tương ứng nhằm giảm thiểu khả năng sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong khoản mục đó tới mức thấp có thể xác định được. Mức trọng yếu thực hiện đối với các khoản mục cần lưu ý thường được xác định ở mức thấp trong khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện tại Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN (theo Phụ lục 04/HD-RRTY- NSBN).

Ví dụ (tiếp theo ví dụ tại Bảng 4): Giả thiết qua khảo sát đối với địa phương A đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu của khoản mục Chi đầu tư phát triển là cao nên KTVNN chọn tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện là 50% mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP. Như vậy, mức trọng yếu thực hiện = 50% x 15.000 triệu đồng = 7.500 triệu đồng;

5. Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể

a) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể dựa trên mức trọng yếu tổng thể BCNSĐP và tỷ lệ % tương ứng trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 của Hướng dẫn này (Không quá 3% so với mức trọng yếu tổng thể và không quá 500 triệu đồng).

Ngưỡng sai sót không đáng kể = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định ngưỡng sai sót không đáng kể X Mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSĐP

Đối với các sai sót được phát hiện nhỏ hơn mức này được coi là không đáng kể nếu xét về mặt định tính, sai sót không có yếu tố gian lận, thất thoát vốn nhà nước, không phải sai sót phổ biến đại diện cho tổng thể và khi tổng hợp lại không ảnh hưởng trọng yếu đến BCQT NSĐP.

Ví dụ (Tiếp ví dụ tại bảng 3): ngưỡng sai sót không đáng kể là 180 triệu đồng. Điều này có nghĩa nếu KTVNN phát hiện các sai sót nhỏ hơn hoặc bằng 180 triệu đồng thì KTVNN sẽ đánh giá nếu sai sót không có yếu tố gian lận, thất thoát vốn nhà nước, không phải sai sót phổ biến thì có thể coi là sai sót không đáng kể.

b) Đối với những khoản mục cần lưu ý, ngưỡng sai sót không đáng kể cũng dựa trên mức trọng yếu đã được xác định đối với khoản mục cần lưu ý nói trên.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ tại Bảng 4): Đối với khoản mục cần lưu ý “Chi đầu tư phát triển  thì ngưỡng sai sót không đáng kể được xác định bằng = 1% x 15.000 triệu đồng = 150 triệu đồng.