Điều 9. Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu
Việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu theo hướng dẫn CMKTNN số 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính, trong đó lưu ý các nội dung sau:
1. Để làm cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán, KTVNN phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ BCTCNH và cấp độ cơ sở dẫn liệu:
a) Rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ BCTCNH là những rủi ro có ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể BCTCNH và có ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu (Các rủi ro ảnh hưởng đến nhiều khoản mục, chỉ tiêu trên báo cáo và các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận, ...).
Ví dụ: Rủi ro ở cấp độ BCTCNH xuất phát từ hạn chế của môi trường kiểm soát (như sự thiếu năng lực của lãnh đạo ngân hàng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đối với BCTCNH), do vậy, KTVNN phải có biện pháp xử lý tổng thể đối với rủi ro này. Hiểu biết về kiểm soát nội bộ giúp KTVNN xem xét đánh giá: mức độ hoài nghi về tính chính trực của lãnh đạo đơn vị dẫn đến việc trình bày sai lệch các thông tin trên BCTCNH; hoài nghi về điều kiện và độ tin cậy của hồ sơ, tài liệu của ngân hàng.
b) Khi xác định đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cơ sở dẫn liệu đối với các khoản mục, KTVNN cần đánh giá các rủi ro đã xác định có ảnh hưởng lan tỏa đến tổng thể BCTCNH và ảnh hưởng tiềm tàng đến nhiều cơ sở dẫn liệu.
2. Khi thực hiện quy trình quản trị rủi ro, KTVNN phải dựa vào xét đoán chuyên môn để cân nhắc rủi ro đã xác định là rủi ro đáng kể hay không đáng kể.
3. Rủi ro đáng kể thường liên quan đến các giao dịch bất thường: sự can thiệp nhiều hơn của lãnh đạo ngân hàng vào việc hạch toán kế toán; can thiệp thủ công nhiều hơn vào quá trình thu thập và xử lý dữ liệu; các tính toán phức tạp; tính chất của các giao dịch bất thường khiến đơn vị khó có thể thực hiện các kiểm soát một cách hiệu quả đối với những rủi ro đó; các xét đoán mang tính chủ quan hoặc phức tạp; các nguyên tắc kế toán đối với ước tính kế toán hoặc ghi nhận doanh thu, thu nhập, chi phí được diễn giải theo cách khác nhau, …
4. Khi xét đoán rủi ro được coi là đáng kể, KTVNN phải lưu ý xem xét những nội dung:
a) Rủi ro đó là rủi ro do gian lận: có dấu hiệu cố tình điều chỉnh sai thực tế, cố tình phản ánh sai thu nhập và chi phí, sửa chữa chứng từ, hồ sơ tài liệu, gửi giá để trục lợi, ...;
b) Rủi ro đó có liên quan tới những thay đổi lớn: thay đổi chiến lược kinh doanh; áp dụng các quy định kế toán mới; thay đổi chính sách lãi suất huy động và cho vay; thay đổi, mở rộng phạm vi kinh doanh trên nhiều địa bàn mới; ghi nhận, hạch toán các nghiệp vụ trong thời kỳ thay đổi chế độ, chính sách kế toán và các chính sách liên quan đến hoạt động của ngân hàng; thay đổi nhân sự chủ chốt của ngân hàng; tái cơ cấu hoặc các sự kiện bất thường khác; ...
c) Mức độ phức tạp của các giao dịch dễ xảy ra gian lận, sai sót: hoạt động cho vay đối với nhóm khách hàng liên quan, cho vay đối với các khách hàng nhỏ lẻ khó theo dõi, khách hàng có tài sản đảm bảo khó định giá, …
d) Rủi ro gắn liền với các giao dịch quan trọng: hợp đồng cho vay đầu tư dự án lớn như hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp, giao thông, ...
đ) Mức độ chủ quan trong việc định lượng thông tin tài chính, đặc biệt là yếu tố chưa chắc chắn: các ước tính kế toán; việc phân bổ các chi phí chung; áp dụng các định mức chưa có hướng dẫn; ...
e) Rủi ro có liên quan tới những giao dịch lớn nằm ngoài phạm vi hoạt động bình thường của đơn vị hoặc liên quan tới giao dịch có dấu hiệu bất thường: phát sinh nợ xấu có giá trị lớn do tình hình tài chính của khách hàng khó khăn; chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trích lập tăng cao hơn so với các ngân hàng khác; ...
f) Các ảnh hưởng do mô hình và cơ chế hoạt động của đơn vị còn nhiều bất cập; trình độ năng lực của ban lãnh đạo đơn vị hạn chế; trùng lắp hoặc chồng chéo trong điều hành; những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là những khiếm khuyết không được Ban giám đốc xử lý; …
g) Những tồn tại được chỉ ra từ những cuộc kiểm toán, thanh tra, kiểm tra trước đó, những sai sót có tính hệ thống chưa được khắc phục; việc điều tra của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động hoặc kết quả tài chính của đơn vị; các vụ kiện tụng chưa được giải quyết và các khoản nợ tiềm tàng; …
h) Những vấn đề nổi cộm trong hoạt động của đơn vị bao gồm cả quản lý tài chính, kế toán; thiếu hụt về nhân sự có năng lực không phù hợp của nhân viên kế toán; ...
i) Những sai sót trong chiến lược, quy hoạch; việc tuân thủ và tính hợp lý của quy hoạch ngành; sự thiếu sót trong quản lý dẫn tới các yếu kém đã được xác định; ...
k) Những dấu hiệu bất thường của khách hàng có liên quan đến ngân hàng.
5. Đối với mỗi rủi ro ở cấp độ BCTCNH và cấp độ cơ sở dẫn liệu, KTVNN cần đánh giá tác động của chúng đến các khoản mục, chỉ tiêu trên BCTCNH.
6. Trong trường hợp đơn vị sử dụng công nghệ thông tin, KTVNN phải tìm hiểu cách thức đơn vị xử lý rủi ro phát sinh từ công nghệ thông tin khi đánh giá hệ thống kiểm soát của đơn vị theo quy định tại Đoạn 40 của CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính.