vanban.org

Điều 10. Xác định trọng yếu kiểm toán — Quyết định 02/2019/QĐ-KTNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 28/04/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 28/04/2023 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 06/2023/QĐ-KTNN · 28/04/2023
Kiểm toán nhà nước Ban hành 22/08/2019 Hiệu lực 06/10/2019 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 7 năm
Quyết định số 02/2019/QĐ-KTNN Ban hành Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo cáo tài chính ngân hàng · 02/2019/QĐ-KTNN
28/04/202306/2023/QĐ-KTNNBãi bỏ Đang xem 06/10/2019Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 02/2019/QĐ-KTNN › Chương III › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Xác định trọng yếu kiểm toán

Việc xác định trọng yếu kiểm toán thực hiện theo hướng dẫn từ Đoạn 21 đến Đoạn 42 CMKTNN số 1320 - Xác định và vận dụng trọng yếu trong kiểm toán tài chính, trong đó cần lưu ý:

1. Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH (Theo Phụ lục số 03/HD-RRTY-NH)

a) Xác định tiêu chí được sử dụng để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH

- Việc xác định tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN về nhu cầu thông tin của đa số người sử dụng báo cáo quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu nào.

- Căn cứ vào sự quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước, đặc thù hoạt động của từng ngân hàng được kiểm toán, KTVNN có thể lựa chọn một hoặc một số chỉ tiêu hay được xem xét như: Tổng thu nhập, Tổng chi phí, Tổng lợi nhuận trước thuế, Tổng tài sản, Tổng vốn chủ sở hữu. Tùy từng trường hợp cụ thể, KTVNN phải sử dụng xét đoán chuyên môn để quyết định lựa chọn tiêu chí phù hợp, mà không nhất thiết phải lựa chọn các tiêu chí này.

- Việc xác định tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN, tùy thuộc vào thực trạng tài chính, nhu cầu của đa số người sử dụng thông tin thông thường theo một số trường hợp sau:

+ Nếu Ngân hàng kinh doanh bị lỗ hoặc có lãi không ổn định, thấp; ngân hàng hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (Ngân hàng Phát triển; Ngân hàng Chính sách xã hội,…) có thể chọn các tiêu chí: Tổng thu nhập; Tổng chi phí; Tổng tài sản (do lợi nhuận không phản ánh được quy mô của đơn vị);

+ Nếu Ngân hàng là đơn vị hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, niêm yết trên thị trường chứng khoán, kinh doanh có lãi ổn định có thể chọn tiêu chí: Lợi nhuận trước thuế/sau thuế (do nhiều người sử dụng thông tin có thể có quan tâm nhiều hơn đến lợi nhuận);

+ Nếu Ngân hàng có lỗ lũy kế lớn so với vốn chủ sở hữu, có khả năng bị phá sản: Tổng tài sản; Tổng vốn chủ sở hữu (do nhiều người sử dụng thông tin có thể có quan tâm nhiều hơn đến khả năng thanh toán của ngân hàng).

Ví dụ: Ngân hàng XYZ hoạt động ổn định, đã niêm yết trên thị trường chứng khoán có BCTC tại thời điểm 31/12/XX với các chỉ tiêu cơ bản như sau:

BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Đơn vị tính: triệu đồng

STT Chỉ tiêu Số tiền
1 Thu nhập lãi thuần       10.653.642
2 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ            531.213
3 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối            201.070
4 Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn              29.045
5 Lãi/lỗ thuần từ hoạt động khác            949.652
6 Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần            778.496
7 Chi phí hoạt động       (4.827.116)
8 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước CP dự phòng RRTD         8.316.002
9 Chi phí dự phòng       (2.960.984)
10 Tổng lợi nhuận trước thuế         5.355.018

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

STT Chỉ tiêu Số tiền
1 Tiền mặt và vàng         1.832.862
2 Tiền gửi tại NHNN         6.682.178
3 Tiền gửi và cho vay các TCTD khác       52.473.667
4 Chứng khoán kinh doanh         2.000.398
5 Các công cụ tài chính phái sinh và các tài sản tài chính khác            121.592
6 Cho vay khách hàng     178.147.967
7 Chứng khoán đầu tư       49.331.450
8 Góp vốn đầu tư dài hạn         4.238.080
9 Tài sản cố định         2.276.831
10 Tài sản có khác         9.631.817
TỔNG TÀI SẢN     306.736.842
1 Các khoản nợ chính phủ và NHNN         1.847.879
2 Tiền gửi và vay các TCTD khác       45.762.316
3 Tiền gửi của khách hàng     220.276.955
4 Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, cho vay TCTD chịu rủi ro            297.000
5 Phát hành giấy tờ có giá         5.245.955
6 Các khoản nợ khác         5.115.366
7 Vốn chủ sở hữu       28.191.371
TỔNG NỢ PHẢI TRẢ VÀ VỐN CSH     306.736.842

Giả sử đối với Ngân hàng XYZ lựa chọn tiêu chí Tổng lợi nhuận trước thuế do ngân hàng là đơn vị niêm yết trên thị trường chứng khoán và kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng có lãi.

- Trong trường hợp chỉ kiểm toán một số thông tin, yếu tố của BCTCNH, thì thông tin, yếu tố đó có thể là tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH.

Ví dụ: Có thể lựa chọn tiêu chí Tổng tài sản của Ngân hàng XYZ làm tiêu chí để xác định mức trọng yếu tổng thể trong trường hợp chỉ kiểm toán tài sản, không quan tâm đến kết quả kinh doanh trong năm.

b) Lấy giá trị của tiêu chí lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH

- Giá trị tiêu chí xác định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thường dựa trên số liệu trước kiểm toán do đơn vị cung cấp, thông thường là các chỉ tiêu trên BCTCNH như Tổng thu nhập, Tổng chi phí, Tổng lợi nhuận trước thuế, Tổng tài sản, Tổng nguồn vốn, … Khi BCTCNH được lập cho kỳ kế toán dài hơn hoặc ngắn hơn 12 tháng, mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH cần phải được xác định dựa trên BCTCNH được kiểm toán, hoặc số liệu báo cáo ước tính (nếu chưa có báo cáo chính thức).

- Giá trị của tiêu chí lựa chọn xác định mức trọng yếu tổng thể BCTCNH cần được dựa trên các dữ liệu tài chính phù hợp do Ngân hàng cung cấp. Những dữ liệu này thường bao gồm các số liệu về kết quả hoạt động và tình hình tài chính trong kỳ được kiểm toán. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể, KTVNN có thể điều chỉnh tăng, giảm giá trị tiêu chí cho phù hợp khi loại trừ các biến động bất thường hoặc có những thay đổi quan trọng trong hoạt động của Ngân hàng.

Ví dụ: tại các ngân hàng thường ít khi phát sinh các khoản thu nhập bất thường nhưng tại ngân hàng XYZ được kiểm toán lại phát sinh khoản thu nhập bất thường từ bán thanh lý tài sản rất lớn (các năm trước không phát sinh), khi đó KTVNN có thể loại trừ khoản thu nhập bất thường từ bán các loại tài sản này trước khi sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế để ước tính mức trọng yếu tổng thể, nhằm phản ánh phù hợp mức độ sai sót sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTCNH.

c) Lựa chọn tỷ lệ (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH

- Trên cơ sở khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH quy định tại Khoản 1 Điều 6 của hướng dẫn này, KTVNN phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định tỷ lệ % áp dụng cho tiêu chí đã lựa chọn cho từng cuộc kiểm toán, phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về mức độ sai sót có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTCNH.

- Tùy theo Ngân hàng được kiểm toán, với cùng một tiêu chí lựa chọn nhưng tỷ lệ % tương ứng để xác định mức trọng yếu có thể khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: quy mô ngân hàng; môi trường thực hiện; đặc điểm của ngân hàng, ... (Chi tiết xem Bảng 2).

Bảng 2: Nhân tố ảnh hưởng đến tiêu chí lựa chọn mức trọng yếu tổng thể

TT Yếu tố Trị số của các tiêu chí lựa chọn

Tỷ lệ % thấp

trong khung hướng dẫn

Tỷ lệ % cao

trong khung hướng dẫn

1 Quy mô ngân hàng Ngân hàng có quy mô lớn, tổng tài sản nguồn vốn lớn, lợi nhuận trước thuế lớn Ngân hàng có quy mô nhỏ, tổng tài sản nguồn vốn nhỏ, lợi nhuận trước thuế thấp
2 Môi trường hoạt động Ngân hàng có mạng lưới hoạt động trên địa bàn rộng, trải khắp các tỉnh, thành phố, huyện, thị xã, … Ngân hàng có mạng lưới hoạt động tập trung, ...
3 Đặc điểm của ngân hàng Ngân hàng có hệ thống công nghệ thông tin lạc hậu, bảo mật thấp, … Ngân hàng đã được đầu tư hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, an toàn, bảo mật tốt, ...
Ngân hàng có những chính sách riêng liên quan nhiều đến phát triển đặc thù như phát triển nông nghiệp nông thôn, vùng sâu, vùng xa, … được sự quan tâm theo dõi của Quốc hội, Chính Phủ Ngân hàng ít liên quan đến các chính sách ưu đãi của nhà nước, …
… ... ...  

Lưu ý: Các yếu tố trên chỉ mang tính định hướng, có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến tính phù hợp của mức trọng yếu tùy từng trường hợp cụ thể của Ngân hàng được kiểm toán.

d) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH dựa trên giá trị của tiêu chí đã chọn và tỷ lệ tương ứng

Mức trọng yếu tổng thể đối với BCTCNH = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH X

Giá trị tiêu chí lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với

tổng thể BCTCNH

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên tại Ngân hàng XYZ): Ngân hàng XYZ là ngân hàng có quy mô lớn, đã niêm yết trên sàn chứng khoán nên lựa chọn chỉ tiêu Tổng lợi nhuận trước thuế với tỷ lệ thấp là 1% để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC. Như vậy, mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC của Ngân hàng XYZ = 1% x 5.355.018 triệu đồng = 53.550 triệu đồng (chi tiết xem Bảng 3).

Bảng 3. Xác định trọng yếu kiểm toán

Nội dung   Kế hoạch

Tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu

(đánh dấu vào ô lựa chọn)

   LN trước thuế   Tổng thu nhập   Tổng chi phí  Vốn chủ sở hữu  Tổng tài sản  …

Nguồn số liệu để xác định mức trọng yếu

(đánh dấu vào ô lựa chọn)

   BCTC trước kiểm toán   Kế hoạch SXKD  Ước tính  …
Lý do lựa chọn tiêu chí   Lợi nhuận là tiêu chí tổng hợp, phản ánh kết quả thu nhập - chi phí; Mặt khác, Ngân hàng XYZ đã niêm yết trên thị trường chứng khoán nên chỉ tiêu lợi nhuận được nhiều đối tượng quan tâm.
Giá trị tiêu chí được lựa chọn (a) 5.355.018 trđ
Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu (b)  [1% - 6%] LN trước thuế: chọn 1%  [0,5% - 2%] Tổng thu nhập  [0,5% - 2%] Tổng chi phí  [0,5% - 2%] Vốn chủ sở hữu  [0,5% - 2%] Tổng tài sản  …
Lý do lựa chọn tỷ lệ này   Ngân hàng XYZ có quy mô lớn, phức tạp; Mặt khác, tính chính xác và đầy đủ của chỉ tiêu LN trước thuế ảnh hưởng đến số tiền thuế TNDN nộp vào NSNN.
Mức trọng yếu tổng thể  (c)=(a)*(b) 53.550 trđ
Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu thực hiện (d) [50% - 75%] . Chọn 50%
Mức trọng yếu thực hiện (e)=(c)*(d) 26.775 trđ
Tỷ lệ sử dụng để ước tính ngưỡng sai sót không đáng kể (f) [0% - 3%] . Chọn 0,1%
Ngưỡng sai sót không đáng kể (g)=(c)*(f) 53,5 trđ

2. Xác định mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý (Theo Phụ lục số 04/HD-RRTY-NH).

- Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể có các khoản mục trên BCTCNH có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTCNH thì KTVNN cần phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng nhóm khoản mục này. KTVNN có thể dựa vào xét đoán chuyên môn của mình để xác định mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý hoặc vận dụng tỷ lệ % trong khung tỷ lệ tại chính sách xác định mức trọng yếu kiểm toán để xác định tương tự như đối với xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp thì mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý đều được xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH.

Ví dụ (tiếp ví dụ trên tại ngân hàng XYZ): Chỉ tiêu thuế và các khoản nộp NSNN 10.000 triệu đồng (thông tin từ thuyết minh mục Các khoản nợ khác), mặc dù nhỏ hơn mức trọng yếu tổng thể nhưng là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến nghĩa vụ với NSNN, nên xác định mức trọng yếu riêng. Khi đó, KTVNN có thể dựa vào xét đoán chuyên môn của mình để xác định mức trọng yếu đối với khoản mục ở mức thấp hơn mức trọng yếu tổng thể. Giả sử KTVNN chọn tỷ lệ 1% trên giá trị của khoản mục cần lưu ý. Mức trọng yếu đối với khoản mục này được xác định là: 1% x giá trị khoản mục thuế và các khoản nộp NSNN = 1% x 10.000 triệu đồng = 100 triệu đồng (chi tiết xem Bảng 3).

- Đối với những khoản mục trọng yếu về bản chất hoặc hậu quả của sai sót tại khoản mục đó nếu xảy ra là nghiêm trọng thì mức trọng yếu được xác định ở mức thấp. Trường hợp có những khoản mục có yêu cầu chính xác cao về số liệu, mức trọng yếu đối với khoản mục đó có thể được xác định ở mức rất thấp (mức trọng yếu gần bằng 0). Khi đó, KTVNN có thể cần kiểm toán toàn bộ các giao dịch có liên quan nhằm phát hiện tất cả các sai sót có liên quan đến khoản mục.

- Các yếu tố có thể dẫn đến sự tồn tại của các khoản mục cần lưu ý (như trình bày ở trên) cần được xem xét, bao gồm các yếu tố như:

+ Pháp luật, các quy định hoặc khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng;

+ Các thuyết minh quan trọng liên quan đến các khoản đầu tư, phân loại nợ trích lập dự phòng, ... của ngân hàng được kiểm toán;

+ Những lĩnh vực hoạt động nhất định của ngân hàng được thuyết minh riêng rẽ trên BCTCNH.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên tại Ngân hàng XYZ): Nhóm giao dịch với các bên liên quan. Theo thuyết minh BCTCNH cho thấy Ngân hàng trong năm có sử dụng dịch vụ thuê tòa nhà, dịch vụ bảo vệ, dịch vụ chăm sóc cây cảnh, chi phí này chiếm 20% tổng chi phí trong năm của Công ty B (là công ty mà Ngân hàng XYZ có góp vốn 15%). Ngân hàng trong năm cũng đầu tư một hệ thống phần mềm của Công ty C có nguyên giá bằng 15% tổng nguyên giá TSCĐ của Ngân hàng. Được biết Công ty C có dư nợ vay tại Ngân hàng là rất lớn. Trong trường hợp này, các giao dịch với các bên liên quan có vai trò rất quan trọng, vì một sự điều chỉnh nhỏ đối với giá giao dịch có thể được xem xét đến tính chính trực của ban lãnh đạo, ảnh hưởng đến thông tin trên BCTCNH, ...

Bảng 4. Xác định mức trọng yếu tổng thể, mức trọng yếu thực hiện và ngưỡng sai sót không đáng kể của khoản mục cần lưu ý

Các khoản mục cần lưu ý Giá trị khoản mục Xác định mức trọng yếu khoản mục KM lưu ý Xác định mức trọng yếu thực hiện của KM lưu ý Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể Mô tả cách xác định
Tỷ lệ % Mức trọng yếu Tỷ lệ  % Mức trọng yếu Tỷ lệ  % Ngưỡng sai sót không đáng kể
(1) (2) (3) (4=3x2) (5) (6=5x4) (7) (8=7x4) (9)
1.Thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước

10.000

trđ

1%

100

trđ

50%

50

Trđ

0,1%

1

trđ

Do là chỉ tiêu rất quan trọng
… …              

3. Xác định các khoản mục trọng yếu

Trên cở sở mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH và mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý, KTVNN xác định các khoản mục trọng yếu (Theo Phụ lục số 05/HD-RRTY-NH):

a) Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTVNN cần xác định các khoản mục trọng yếu trên BCTCNH làm cơ sở để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quá trình thực hiện kiểm toán.

b) Việc xác định các khoản mục có là trọng yếu hay không cần xem xét cả về định lượng và định tính trong hoàn cảnh cụ thể: 

- Xét về mặt định lượng: các khoản mục trên BCTCNH có giá trị lớn hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH có thể xác định là trọng yếu nếu đánh giá có thể chứa đựng sai sót trọng yếu lớn hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ tại Ngân hàng XYZ): Tất cả các khoản mục tại thời điểm 31/12/XX của Ngân hàng XYZ có giá trị lớn hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC (>53.550 trđ) được xác định là khoản mục trọng yếu nếu đánh giá chứa đựng rủi ro sai sót lớn hơn mức trọng yếu tổng thể.

- Xét về mặt định tính: Việc xác định các khoản mục trọng yếu này không chỉ đơn thuần là việc xem xét về giá trị của các khoản mục trên BCTCNH mà cần phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xem xét các yếu tố định tính trong hoàn cảnh cụ thể. Một khoản mục có giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu có thể là trọng yếu khi xem xét các yếu tố định tính nếu khoản mục là quan trọng và có khả năng chứa đựng sai sót, gian lận. Ngược lại, một khoản mục có giá trị lớn hơn mức trọng yếu có thể không xác định là trọng yếu nếu KTVNN có đủ cơ sở xác định khoản mục không chứa đựng sai sót trọng yếu (ví dụ tại Bảng 5).

Bảng 5. Xác định khoản mục trọng yếu về đơn vị được kiểm toán

TT Chỉ tiêu Giá trị khoản mục Khoản mục trọng yếu (có/không) Lý do
1 2 3 4 5
11

Tiền mặt và vàng

1.832.862 trđ

Không

Quy mô giá trị lớn hơn mức trọng yếu tổng thể nhưng được kiểm soát hiệu quả; thực hiện kiểm kê, đối chiếu thường xuyên.
22 TK nợ phải thu khác (do tham ô, chiếm dụng chờ xử lý) 9.354 trđ Có Quy mô giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu tổng thể, nhưng là khoản mục hay có sai sót; quy trình  KSNB có nhiều yếu kém.
23 TK thuế và các khoản nộp nhà nước 10.000 trđ Có Quy mô giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu tổng thể, nhưng là chỉ tiêu quan trọng, chính sách thay đổi nên hay sai sót.
… ...      

c) Khi xác định các khoản mục trọng yếu, KTVNN thường xem xét các chỉ tiêu trên BCTCNH. Tuy nhiên, các thành phần chi tiết của chỉ tiêu trên BCTCNH cũng có thể được xem xét để xác định liệu những thành phần chi tiết đó có phải là trọng yếu hay không.

d) Khi đánh giá tính trọng yếu của các khoản mục, KTVNN cần xem xét cả quy mô, bản chất cũng như nội dung của từng khoản mục trong hoàn cảnh cụ thể. Các yếu tố định lượng và định tính liên quan đến việc xác định các khoản mục trọng yếu có thể bao gồm các yếu tố sau:

- Độ lớn và thành phần chi tiết của các khoản mục, số lượng của các giao dịch, mức độ phức tạp và tính đồng nhất của các giao dịch liên quan đến khoản mục (ví dụ: Các khoản mục số dư lớn, phức tạp có thể chứa đựng sai sót trọng yếu);

- Khả năng có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn của các khoản mục;

- Bản chất của các khoản mục (ví dụ: các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh dễ bị tác động để làm thay đổi kết quả kinh doanh như thu nhập, chi phí chờ phân bổ, chi phí dự phòng tín dụng hoặc chi phí trích trước, ...);

- Sự phức tạp trong hạch toán kế toán và lập báo cáo các khoản mục (ví dụ: các nghiệp vụ xảy ra ở cuối kỳ kế toán hoặc thuộc nghiệp vụ mới phát sinh; các hoạt động đặc thù, ...);

- Sự tồn tại của giao dịch với các bên liên quan trong các khoản mục (ví dụ: các nghiệp vụ bù trừ, quyết toán các hợp đồng khoán với các bộ phận, ...);

- Các khoản mục có sự biến động lớn, bất thường so với giai đoạn trước (ví dụ: nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh có các giao dịch mới, phức tạp hoặc mang tính chủ quan);

- Nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính, kỳ vọng và mối quan tâm của các nhà quản lý và công chúng về một vấn đề nhất định (ví dụ: những vấn đề nổi cộm được Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm như nợ xấu, ...);

- Yêu cầu giám sát theo quy định của pháp luật trong một lĩnh vực cụ thể;

- Yêu cầu về việc công khai và minh bạch (ví dụ: yêu cầu công khai cụ thể về gian lận hoặc các thiệt hại khác);

- Những thông tin thuyết minh quan trọng liên quan tới hoạt động tín dụng, đầu tư … của ngân hàng.

đ) Sau khi xác định ban đầu các khoản  mục trọng yếu, KTVNN cần xem xét liệu các khoản mục không được xác định là trọng yếu, nếu xét tổng hợp, có thể trở thành trọng yếu hay không.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ tại Ngân hàng XYZ): Tiếp tục xác định các khoản mục trọng yếu trên BCTCNH. Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH là 53.550  triệu đồng và mức trọng yếu khoản mục thuế và các khoản nộp NSNN là 100 triệu đồng (xem chi tiết Bảng 3 và Bảng 6).

Bảng 6. Xác định các khoản mục trọng yếu

TT Chỉ tiêu

Giá trị

(triệu đồng)

Khoản mục trọng yếu (Có/Không) Lý do
I Nguồn vốn      
1 Vốn điều lệ 18.155.054 trđ Có Quy mô lớn hơn mức trọng yếu tổng thể. Về bản chất đây là khoản mục đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ và sự quan tâm của người sử dụng thông tin
2 Quỹ của TCTD 3.138.653 trđ Có Quy mô lớn hơn mức trọng yếu tổng thể. Khoản muc đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ việc trích lập và sử dụng quỹ. Chưa có bằng chứng chứng minh không có sai sót trọng yếu
3 Thặng dư vốn cổ phần 828.197 trđ Không Quy mô lớn hơn mức trọng yếu nhưng khả năng kiểm soát nội bộ hiệu quả; đã thử nghiệm đánh giá HTKSNB hữu hiệu. 
24

TK thuế và các khoản nộp nhà nước

10.000 trđ Có Quy mô giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu tổng thể, nhưng là chỉ tiêu quan trọng, chính sách thay đổi nên hay sai sót.
II Chi phí      
1 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 2.960.984 trđ Có Quy mô lớn hơn mức trọng yếu tổng thể. Tiềm ẩn nhiều rủi ro và hay xảy ra sai sót có tính chất trọng  yếu
2 Chi phí hoạt động dịch vụ 145.567 trđ Không Quy mô lớn hơn mức trọng yếu tổng thể nhưng Ngân hàng quản lý tốt; đã thử nghiệm đánh giá HTKSNB hữu hiệu. 
3 Chi phí kiểm toán 900 trđ Không Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu; ít tiềm ẩn sai sót
  ....      

4. Xác định mức trọng yếu thực hiện

a) Xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH và tỷ lệ % tương ứng trong chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Chính sách trọng yếu (khoảng từ 50-75% so với mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH).

b) Việc xác định mức trọng yếu thực hiện không chỉ đơn thuần là một phép tính cơ học mà yêu cầu phải có những xét đoán chuyên môn. Việc xét đoán này phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về đơn ngân hàng được kiểm toán, kết quả  đánh giá rủi ro, qui mô, bản chất của các sai sót đã phát hiện trong các cuộc kiểm toán, kiểm tra, thanh tra trước và khả năng lặp lại sai sót đó trong kỳ kiểm toán, mức độ sai sót dự kiến trong kỳ kiểm toán.

c) Việc chọn tỷ lệ áp dụng cho từng cuộc kiểm toán cụ thể tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN và phải được giải thích lý do trong kế hoạch kiểm toán. Thông qua quá trình tìm hiểu thông tin về ngân hàng và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, nếu KTVNN xác định rủi ro có sai sót trọng yếu của BCTCNH càng cao thì mức trọng yếu thực hiện càng nhỏ (tương ứng tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện trên mức trọng yếu tổng thể càng nhỏ) để phần chênh lệch giữa mức trọng yếu tổng thể và mức trọng yếu thực hiện có thể bao quát được các sai sót không phát hiện được và các sai sót không điều chỉnh.

d) Mức trọng yếu thực hiện sẽ quyết định nội dung, giới hạn và phạm vi kiểm toán cần phải thực hiện như: phải kiểm tra khoản mục nào; số lượng mẫu chọn để kiểm toán ... (theo lý thuyết chọn mẫu: Khoảng cách mẫu = Mức trọng yếu thực hiện/R và số phần tử chọn mẫu kiểm toán trong từng khoản mục =Giá trị của khoản mục phải chọn mẫu/ Khoảng cách mẫu – Chi tiết tại Khoản 2 Điều 12).

đ) Đối với các khoản mục cần lưu ý: Mức trọng yếu thực hiện cũng cần được xác định tương ứng nhằm giảm thiểu khả năng sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong khoản mục đó tới mức thấp có thể xác định được. Mức trọng yếu thực hiện đối với khoản mục cần lưu ý thường được xác định ở mức thấp trong khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện tại Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN (Theo Phụ lục số 04/HD-RRTY-NH).

Ví dụ (tiếp theo ví dụ tại ngân hàng XYZ): Giả sử qua khảo sát và thu thập thông tin tại Ngân hàng. KTVNN đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu đối với Ngân hàng XYZ là cao. Do đó, tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện được xác định là mức thấp nhất trong khung tỷ lệ 50% - 75%. Như vậy, mức trọng yếu thực hiện = 50% x 53.550 trđ = 26.775 trđ; khoản mục cần lưu ý “thực hiện nghĩa vụ với NSNN” = 50% x 100 triệu đồng = 50 triệu đồng (xem chi tiết tại Bảng 3 và Bảng 4).

5. Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể

a) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH và tỷ lệ % tương ứng trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 của Hướng dẫn này (không quá 3% so với mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH).

Ngưỡng sai sót không đáng kể = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định ngưỡng sai sót không đáng kể X Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCNH

Ví dụ (tiếp theo ví dụ tại Ngân hàng XYZ): Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể. Theo xét đoán chuyên môn, KTVNN xác định ngưỡng sai sót không đáng kể khi kiểm toán tại Ngân hàng XYZ là 0,1%. Với mức trọng yếu tổng thể được xác định tại ngân hàng là 53.550 trđ, ngưỡng sai sót không đáng kể được xác định bằng = 0,1% x 53.550 trđ = 53,55 trđ.

b) Đối với những khoản mục cần lưu ý, ngưỡng sai sót không đáng kể cũng dựa trên mức trọng yếu đã được xác định đối với khoản mục cần lưu ý nói trên.

Ví dụ (tiếp theo với ngân hàng XYZ): Đối với các khoản mục cần lưu ý “Thuế và các khoản nộp NSNN” có thể được xác định bằng = 0,1% x 100 triệu đồng = 0,1 triệu đồng.